Trang trong tổng số 1 trang (6 bài viết)
[1]

Ảnh đại diện

khkt

Bình Ngô đại cáo



Thay trời hành đạo, hoàng thượng truyền rằng:

Ta nghe:
Nhân nghĩa ở việc, cốt ở an dân,
Điếu phạt bởi quân, trước lo hướng thiện.
Như Đại Việt ta là nước,
Có nền văn hiến từ lâu.
Non sông bờ cọi đã phân chia,
Nam bắc phong tục cũng riêng biệt.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần với các triều giữ nước,
Chống Hán, Đường, Tống, Nguyên bằng kế sách từng vua,
Tuy mạnh yếu các đời khác nhau,
Song anh hùng lúc nào cũng có.
Tham lập công Lưu Cung chuốc thất bại,
Thích đánh lớn Triệu Tiết thảm diệt vong;
Cửa Hàm Tử chốn cùm Toa Đô,
Sông Bạch Đằng nơi chôn Ô Mã.
Núi sông còn đó,
Chứng cứ rõ ràng.
Vừa lúc triều Hồ sinh phiền hà,
Để cho lòng dân đầy oán hận.
Cuồng Minh chực sẵn, thừa cơ hại dân ta,
Ác đảng gian tham, rắc lòng đem bán nước.
Nướng muôn dân nơi lửa độc,
Vùi con đỏ chốn hầm sâu.
Dối trời lừa dân, quỷ kế nghìn cách vạn kiểu,
Loạn binh đủ hận, tàn sát hơn hai mươi năm.
Bại nghĩa mát nhân, trời đất khôn cùng dung thứ,
Sưu cao thuế nặng, núi sông nước cạn đá mòn.
Đãi cát tìm vàng, rừng thiêng nước độc, phá núi ngăn sông,
Đáy biển mò châu, cá mập thuồng luồng, lưng còng nắng gió.
Hại dân, bắt hương đen, đầy cạm bẫy,
Vét của, bắt chim xanh, đủ lưới chăng.
Côn trùng, cây cỏ tất thảy đều hết đường sinh sôi,
Goá vợ, mất chồng người người đâu còn chốn nương cậy.
Mặc sống chết, khánh kiệt máu xương, chúng há miệng nhe răng,
Công lẫn tư, đào đất cất gỗ, dân lầm than khổ cực.
Làng xóm tất hoang tàn xơ xác,
Ruộng vườn thảy trống vắng điêu tàn.
Nhơ nhuốc thay! Hết nước biển Đông không rửa sạch mùi,
Tàn nhẫn thay! Sạch tre nước Nam khôn ghi hết tội,
Nhân dân vô cùng căn phẫn,
Trời đất chẳng thể dung tha.
Ta đây:
Khởi nghĩa Lam Sơn,
Từ nơi hoang dã.
Nghĩ nợ nước há không dốc sức?
Căm thù giặc, khôn đội trời chung.
Đau đầu nhức óc, thoắt đã hơn mười năm,
Nếm mật nằm gai, há một hai sớm tối?
Căm phẫn quên ăn, quyết dồi mài thao lược kinh thư,
Xem xưa nghĩ nay, việc thịnh suy đắn đo càng kỹ.
Luân hồi suy tính,
Quên ngủ quên ăn.
Ngày đầu dấy binh; dương nghĩa kỳ,
Chính lúc kẻ thù, quân đang mạnh.
Thế nhưng:
Nhân tài - Thu lá,
Sao sớm - Anh hùng:
Phải lui binh, trước sau chẳng kẻ đờ đần,
Lập mưu kế, dưới trên vắng người bàn bạc.
Chỉ niệm một lòng cứu dân, giận bởi chưa về được Đông,
Quyết tâm chiêu hiền nạp sỹ, khôi nguyên tìm người hào kiệt,
Thế mà:
Mong người người vắng, mịt mù đáy bể chân trời,
Nát ruột bầm gan, lo hơn cứu người chết đuối.
Giận bởi quân thù chưa diệt,
Lo bởi vận nước khó khăn.
Nơi Linh Sơn, lương hết hàng tuần,
Chốn Khôi Huyện, quân không một đội.
Hay trời thử ta: Gian truân là nhiệm vụ,
Quyết chí bền gan: Ta khắc phục khó khăn.
Trống mở cờ giăng, quân dân bốn phương tụ hội,
Hoà rượu khao quân, tướng sĩ một lòng cha con.
Lấy yếu chống mạnh; đánh bất ngờ, nhằm sơ hở,
Dùng ít địch nhiều; ngầm mai phục, tập phi thường.
May thay:
Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn,
Dùng nhân khí để thay cường đạo.
Khởi Bồ Đằng, sấm vang chớp dật,
Kế Trà Lân, trúc chẻ tro bay.
Tinh thần quân ta thêm hăng,
Quân Thanh càng thêm khiếp sợ.
Trần Trí, Sơn Thọ thoáng nghe mất hồn vía,
Lý An, Phương Chính nín thở lén thoát thân.
Thừa thắng xông lên, Tây Kinh quân ta lấy lại,
Tinh quân tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh vạn dặm,
Tốt Động xác chất đầy đồng, nhơ để ngàn năm.
Thân tín triều giặc, tướng Trần Hiệp đành chịu chém,
Xảo hoạt tinh quái, tên Lý Lượng cũng phơi thây.
Vương Thông giải nguy, như lửa cháy thêm dầu,
Mã Anh tiếp viễn, bằng cơm sôi tăng lửa.
Trí cùng lực kiệt, chờ chết, quân giặc bó tay,
Nội công ngoại kích, không đánh, kẻ thù khuất phục,
Ta khuyên rằng, mau thay tâm đổi ý,
Gây hấn tiếp, tội lội càng tăng thêm.
Ý mình chúng giữ, tội vạ nhằm quân dân chúng trút,
Quyết tham công danh, bất chấp lời thiên hạ cười chê.
Ngoan cố ngang tàng, nhãi ranh Tuyên Đức vẫn quyết đấu,
Nhu nhược vâng lệnh, quân Thạnh Thăng ngăn lửa dùng dầu.
Tháng chín Đinh Mùi, nhằm tiếp viễn, từ Khâu Ôn, Liễu Thăng đem quân tiến đến,
Tháng mười năm đó, cùng ý đồ, phía Vân Nam, Mộc Thạnh dẫn giặc xông vào.
Ta biết trước, chọn điểm sung yếu, chặt mũi tiến công,
Ở phía sau, cho quân bao vây, chặn nguồn lương thực.
Kế sách đã định, cùng tháng ngày mười tám, trên đồng Chi Lăng, thua trận, Liễu Thăng vội tháo chạy,
Quyết chí tấn công, ngày hai mươi tháng ấy, trên núi Mã Yên, thất thủ, Liễu Thăng phải mất đầu.
Quân ta vây hãm, ngày hai lăm, Bảo Định bá Lương Minh tử vong,
Mưu cùng lực cạn, ngày hai tám, Lý Khánh Thượng thư đành tự vẫn,
Thuận đà tiếp đao phá giặc,
Kẻ thù trở giáo đánh nhau.
Chớp thời cơ, quân ta bốn mặt bao vây,
Đúng hoạch định, hẹn giữa tháng mười thắng lợi.
Do ta chọn nhiều tướng mạnh,
Lại mộ thêm lắm binh hùng.
Voi uống phải cạn nước sông
Gương mài phải mòn đá núi.
Một tiếng trống, phanh thây kình sấu,
Tiếng trống nữa, tan tác chim muông.
Ào ào như nước vỡ đê,
Ràn rạt lá khô gió thổi.
Cầu hoà, Thôi Tụ Đô đốc quỳ dâng sớ,
Xin hàng, Thượng thư Hoàng Phúc tự trói tay.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây giặc chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than, thành sông máu chiến chảy.
Kinh hồn mây gió biến sắc,
U ám trời đất tối sầm.
Chọn điểm sung yếu, ta chẵn đánh tại Lê Hoa; Cánh giặc Vân Nam, thua bất ngờ, la hét đến vỡ mật,
Cẩn Trạm Thăng thua, quân Mộc Thạnh nghe được tin; Hoảng loại vô cùng, dậm lên nhau, tháo chạy nhằm thoát thân.
Lãnh Câu máu chảy đầy suối, nước sông đến nghẹn trào,
Đan Xá xác chất thành núi, đồng cỏ mênh mông đỏ.
Cứu binh hai đạo tan tành, không mong hòng quay gót,
Tướng giặc các thành khiếp vía, cởi áo giáp xin hàng.
Chủ thành bị bắt, quý đầu xin tha, vấy đuôi như hổ đói,
Tướng ta nhân từ, tấm lòng trời phật, hiếu sinh ban mở đường.
Trước cấp hơn năm trăm tàu lớn;
Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, đến bờ bên kia vẫn hồn phiêu phách lạc,
Lại cấp hơn vài ngàn ngựa tốt;
Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, về nước mình càng thêm tim đập chân rung.
Bởi chúng ham sống sợ chết, nên đã hối cải thuận theo,
Bảo toàn lực lượng - thượng sách, ta mong quân dân nghỉ sức.
Đó là mưu kế sâu xa, chẳc không phải,
Cũng phép dụng binh xưa nay, chưa ai dùng.
Kiến lập xã tắc bình yên,
Xây dựng giang sơn bền vựng.
Hết bóng thù, yên vui đất nước,
Xoá tối tăm, rạng rở đêm ngày.
Đất nước thái bình đến vạn kiếp từ đây,
Vết nhục nô lễ xoá sạch tận trời đất.
Nhờ thiên địa, tổ tiên linh thiêng phù trợ,
Ngầm chỡ che, giúp đỡ nên có hôm nay!
Than ôi!
Cuộc chiến vĩ đại,
Thắng lợi oanh liệt vô cùng.
Bốn biển thanh bình.
Luật mới ban khắp dân biết.
Xa gần báo hết,
Mọi người thấu hay.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

khkt

Giải thích tại sao tôi lại dịch 2 câu đầu là;
Nhân nghĩa ở việc, cốt ở an dân,
Điếu phạt bởi quân, trước lo hướng thiện.
Mà không dịch là:
Nhân nghĩa ở việc, cốt ở an dân,
Điếu phạt bởi quân, trước lo trừ bạo.
Như các bản dịch hiện có. bởi mấy lý do sau:
1 - Xét về câu chữ:
Nguyên văn chữ hán của 2 câu trên là:
仁義之舉,要在安民,
弔伐之師莫先去暴。
Có mấy cách dọc 2 câu trên. Ví dụ:
a- Đọc là:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
Điếu phạt chi sư mạc tiên khứ bạo.
b- Đọc là:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
Điếu phạt chi sư mạc tiên khử bạo.
c- Đọc là:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại yên dân,
Điếu phạt chi sư mạc tiên khứ bạo.
d- Đọc là:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại yên dân,
Điếu phạt chi sư mạc tiên khử bạo. v.v...
Đều đúng với chữ viết. Còn về ý nghĩa sẽ là khác nhau. Vấn đề ở đây là ý tứ của tác giả như thế nào là vấn đề cần bàn.
2 - Xét về cấu trúc bài:
Từ câu 3 đến câu 16, tác giả nói về nước Đại Việt, cao ngợi những công lao to lớn của các vua các triều đại của Đại Việt và các vua trước đó. Xin nói thêm rằng khi nhà Hồ lên ngôi lấy quốc hiệu là Đại Ngu, chứ không phải là Đại Việt. Tức là tác giả không công nhận nhà Hồ và nước Đại Ngu.
Đến câu thứ 17 tác giả chính thức phê phán nhà Hồ. Theo tôi suy đoán thì khi nhà Hồ cướp ngôi vua từ nhà Trần đã đưa ra một lý do nhân nghĩa để mỹ dân. Sau đó nhà Hồ đã đàn áp nhà Trần một cách tán bạo; Đã giết chết gần 400 tướng sỹ thân cận của Nhà Trần.
Với lập luận như vậy tôi cho rằng 2 câu đàu là nói về nhà Hồ và đưa ra bài học kinh nghiệm cho các vị hoàng đế khi trị vì: Trước hết phải làm an lòng dân, làm cho dân tin tưởng; Thành lập quân đội trước hết là bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân, chứ không phải thành lập quân đội để đàn áp nhân dân.
3 - Xét về ngữ pháp:
Trong câu thứ 2:
Chữ ‘Mạc’ có các nghĩa: Tuyệt đối không (Đại từ), chứ, đừng, không thể, không được (Phó từ); quy định (Động từ)...
Chữ ‘Tiên’ có các nghĩa: Trước (Phó từ); Làm trước (Động từ)...
Chữ ‘Khứ’ hoặc ‘Khử’ đều là động từ có nghĩa là: Đi hoặc diệt. Chữ này còn có âm là ‘Khu’’.
Chữ ‘Bạo’ có các nghĩa là: Hung dữ, tàn ác (Tính từ), Làm hại (Động từ)...
Nếu đọc là: “Mạc tiên khử bạo’ thì đoạn văn này có 4 động từ đi liền nhau, nghe ra không hợp lý. Nếu chữ bạo là tính từ thì chữ khử không có đối tượng, Bởi tính từ không thể là chủ thể được.
Theo tôi: Chữ bạo ở đây là tính tàn bạo, hung ác (Tính từ) chủ thể của nó là: Điếu phạt chi sư - Quân đội điếu phạt.
Bới vậy câu này được đọc là: “Điếu phạt chi sư mạc tiên khứ bạo - Quân đội điếu phạt, trước tiên phải bỏ đi tính tàn bạo.
Kính mong độc giả xem xét góp ý kiến
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

khkt

khkt đã viết:

Bình Ngô đại cáo



Thay trời hành đạo, hoàng thượng truyền rằng:

Ta nghe:
Nhân nghĩa ở việc, cốt ở an dân,
Điếu phạt bởi quân, trước lo hướng thiện.
Nhớ Đại Việt ta là nước,
Có nền văn hiến từ lâu.
Non sông bờ cọi đã phân chia,
Nam bắc phong tục cũng riêng biệt.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần với các triều giữ nước,
Chống Hán, Đường, Tống, Nguyên bằng kế sách từng vua,
Tuy mạnh yếu các đời khác nhau,
Song anh hùng lúc nào cũng có.
Tham lập công Lưu Cung chuốc thất bại,
Thích đánh lớn Triệu Tiết thảm diệt vong;
Cửa Hàm Tử chốn cùm Toa Đô,
Sông Bạch Đằng nơi chôn Ô Mã.
Núi sông còn đó,
Chứng cứ rõ ràng.
Vừa lúc triều Hồ sinh phiền hà,
Để cho lòng dân đầy oán hận.
Cuồng Minh chực sẵn, thừa cơ hại dân ta,
Ác đảng gian tham, rắc lòng đem bán nước.
Nướng muôn dân nơi lửa độc,
Vùi con đỏ chốn hầm sâu.
Dối trời lừa dân, quỷ kế nghìn cách vạn kiểu,
Loạn binh đủ hận, tàn sát hơn hai mươi năm.
Bại nghĩa mát nhân, trời đất khôn cùng dung thứ,
Sưu cao thuế nặng, núi sông nước cạn đá mòn.
Đãi cát tìm vàng, rừng thiêng nước độc, phá núi ngăn sông,
Đáy biển mò châu, cá mập thuồng luồng, lưng còng nắng gió.
Hại dân, bắt hương đen, đầy cạm bẫy,
Vét của, bắt chim xanh, đủ lưới chăng.
Côn trùng, cây cỏ tất thảy đều hết đường sinh sôi,
Goá vợ, mất chồng người người đâu còn chốn nương cậy.
Mặc sống chết, khánh kiệt máu xương, chúng há miệng nhe răng,
Công lẫn tư, đào đất cất gỗ, dân lầm than khổ cực.
Làng xóm tất hoang tàn xơ xác,
Ruộng vườn thảy trống vắng điêu tàn.
Nhơ nhuốc thay! Hết nước biển Đông không rửa sạch mùi,
Tàn nhẫn thay! Sạch tre nước Nam khôn ghi hết tội,
Nhân dân vô cùng căn phẫn,
Trời đất chẳng thể dung tha.
Ta đây:
Khởi nghĩa Lam Sơn,
Từ nơi hoang dã.
Nghĩ nợ nước há không dốc sức?
Căm thù giặc, khôn đội trời chung.
Đau đầu nhức óc, thoắt đã hơn mười năm,
Nếm mật nằm gai, há một hai sớm tối?
Căm phẫn quên ăn, quyết dồi mài thao lược kinh thư,
Xem xưa nghĩ nay, việc thịnh suy đắn đo càng kỹ.
Luân hồi suy tính,
Quên ngủ quên ăn.
Ngày đầu dấy binh; dương nghĩa kỳ,
Chính lúc kẻ thù, quân đang mạnh.
Thế nhưng:
Nhân tài - Thu lá,
Sao sớm - Anh hùng:
Phải lui binh, trước sau chẳng kẻ đờ đần,
Lập mưu kế, dưới trên vắng người bàn bạc.
Chỉ niệm một lòng cứu dân, giận bởi chưa về được Đông,
Quyết tâm chiêu hiền nạp sỹ, khôi nguyên tìm người hào kiệt,
Thế mà:
Mong người người vắng, mịt mù đáy bể chân trời,
Nát ruột bầm gan, lo hơn cứu người chết đuối.
Giận bởi quân thù chưa diệt,
Lo bởi vận nước khó khăn.
Nơi Linh Sơn, lương hết hàng tuần,
Chốn Khôi Huyện, quân không một đội.
Hay trời thử ta: Gian truân là nhiệm vụ,
Quyết chí bền gan: Ta khắc phục khó khăn.
Trống mở cờ giăng, quân dân bốn phương tụ hội,
Hoà rượu khao quân, tướng sĩ một lòng cha con.
Lấy yếu chống mạnh; đánh bất ngờ, nhằm sơ hở,
Dùng ít địch nhiều; ngầm mai phục, tập phi thường.
May thay:
Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn,
Dùng nhân khí để thay cường đạo.
Khởi Bồ Đằng, sấm vang chớp dật,
Kế Trà Lân, trúc chẻ tro bay.
Tinh thần quân ta thêm hăng,
Quân Thanh càng thêm khiếp sợ.
Trần Trí, Sơn Thọ thoáng nghe mất hồn vía,
Lý An, Phương Chính nín thở lén thoát thân.
Thừa thắng xông lên, Tây Kinh quân ta lấy lại,
Tinh quân tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh vạn dặm,
Tốt Động xác chất đầy đồng, nhơ để ngàn năm.
Thân tín triều giặc, tướng Trần Hiệp đành chịu chém,
Xảo hoạt tinh quái, tên Lý Lượng cũng phơi thây.
Vương Thông giải nguy, như lửa cháy thêm dầu,
Mã Anh tiếp viễn, bằng cơm sôi tăng lửa.
Trí cùng lực kiệt, chờ chết, quân giặc bó tay,
Nội công ngoại kích, không đánh, kẻ thù khuất phục,
Ta khuyên rằng, mau thay tâm đổi ý,
Gây hấn tiếp, tội lội càng tăng thêm.
Ý mình chúng giữ, tội vạ nhằm quân dân chúng trút,
Quyết tham công danh, bất chấp lời thiên hạ cười chê.
Ngoan cố ngang tàng, nhãi ranh Tuyên Đức vẫn quyết đấu,
Nhu nhược vâng lệnh, quân Thạnh Thăng ngăn lửa dùng dầu.
Tháng chín Đinh Mùi, nhằm tiếp viễn, từ Khâu Ôn, Liễu Thăng đem quân tiến đến,
Tháng mười năm đó, cùng ý đồ, phía Vân Nam, Mộc Thạnh dẫn giặc xông vào.
Ta biết trước, chọn điểm sung yếu, chặt mũi tiến công,
Ở phía sau, cho quân bao vây, chặn nguồn lương thực.
Kế sách đã định, cùng tháng ngày mười tám, trên đồng Chi Lăng, thua trận, Liễu Thăng vội tháo chạy,
Quyết chí tấn công, ngày hai mươi tháng ấy, trên núi Mã Yên, thất thủ, Liễu Thăng phải mất đầu.
Quân ta vây hãm, ngày hai lăm, Bảo Định bá Lương Minh tử vong,
Mưu cùng lực cạn, ngày hai tám, Lý Khánh Thượng thư đành tự vẫn,
Thuận đà tiếp đao phá giặc,
Kẻ thù trở giáo đánh nhau.
Chớp thời cơ, quân ta bốn mặt bao vây,
Đúng hoạch định, hẹn giữa tháng mười thắng lợi.
Do ta chọn nhiều tướng mạnh,
Lại mộ thêm lắm binh hùng.
Voi uống phải cạn nước sông
Gương mài phải mòn đá núi.
Một tiếng trống, phanh thây kình sấu,
Tiếng trống nữa, tan tác chim muông.
Ào ào như nước vỡ đê,
Ràn rạt lá khô gió thổi.
Cầu hoà, Thôi Tụ Đô đốc quỳ dâng sớ,
Xin hàng, Thượng thư Hoàng Phúc tự trói tay.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây giặc chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than, thành sông máu chiến chảy.
Kinh hồn mây gió biến sắc,
U ám trời đất tối sầm.
Chọn điểm sung yếu, ta chẵn đánh tại Lê Hoa; Cánh giặc Vân Nam, thua bất ngờ, la hét đến vỡ mật,
Cẩn Trạm Thăng thua, quân Mộc Thạnh nghe được tin; Hoảng loại vô cùng, dậm lên nhau, tháo chạy nhằm thoát thân.
Lãnh Câu máu chảy đầy suối, nước sông đến nghẹn trào,
Đan Xá xác chất thành núi, đồng cỏ mênh mông đỏ.
Cứu binh hai đạo tan tành, không mong hòng quay gót,
Tướng giặc các thành khiếp vía, cởi áo giáp xin hàng.
Chủ thành bị bắt, quý đầu xin tha, vấy đuôi như hổ đói,
Tướng ta nhân từ, tấm lòng trời phật, hiếu sinh ban mở đường.
Trước cấp hơn năm trăm tàu lớn;
Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, đến bờ bên kia vẫn hồn phiêu phách lạc,
Lại cấp hơn vài ngàn ngựa tốt;
Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, về nước mình càng thêm tim đập chân rung.
Bởi chúng ham sống sợ chết, nên đã hối cải thuận theo,
Bảo toàn lực lượng - thượng sách, ta mong quân dân nghỉ sức.
Đó là mưu kế sâu xa, chẳc không phải,
Cũng phép dụng binh xưa nay, chưa ai dùng.
Kiến lập xã tắc bình yên,
Xây dựng giang sơn bền vựng.
Hết bóng thù, yên vui đất nước,
Xoá tối tăm, rạng rở đêm ngày.
Đất nước thái bình đến vạn kiếp từ đây,
Vết nhục nô lễ xoá sạch tận trời đất.
Nhờ thiên địa, tổ tiên linh thiêng phù trợ,
Ngầm chỡ che, giúp đỡ nên có hôm nay!
Than ôi!
Cuộc chiến vĩ đại,
Thắng lợi oanh liệt vô cùng.
Bốn biển thanh bình.
Luật mới ban khắp dân biết.
Xa gần báo hết,
Mọi người thấu hay.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

khkt

Trong bài dịch tôi đã cố gắng sử dụng văn phạm của tác giả. Tất cả các câu tôi dịch đều có số chữ bằng văn bản gốc. Và cố gắng sử dụng vế đối như nguyên tác. Mặc dù vậy, còn có một số câu từ chưa được chỉnh chu, Mong mọi người góp ý
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

khkt

2 câu 7 và 8 tôi đã dịch là:
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần với các triều giữ nước,
Chống Hán, Đường, Tống, Nguyên bằng kế sách từng vua,
Bởi lẽ: Theo tôi nghĩ: “Nhi các đế nhất phương” là “Với mỗi vua một biện pháp”
Dân gian ta có câu: “Trăm phương ngàn kế”
Hán Việt có câu “Thiên phương bách kế” - Trắm kế ngàn phương
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

khkt

Theo tôi tác giả sử dụng từ “Bạch Đằng hải” Chắc là có dụng ý. Bởi lẽ Hải còn có nghĩa là hồ lớn trong đất liền
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài viết)
[1]