敘幽冤
痛填心兮不能語,
寸斷腸兮訴何處?
春生萬物妾不生,
更恨香魂不相遇。
Tự u oan
Thống điền tâm hề bất năng ngữ,
Thốn đoạn trường hề tố hà xứ?
Xuân sinh vạn vật thiếp bất sinh,
Cánh hận hương hồn bất tương ngộ.
Dịch nghĩa
Đau nghẹn trong tim, chẳng nói nên lời,
Ruột đứt từng khúc, biết kêu nơi nào?
Xuân sinh muôn vật, thiếp chẳng được sinh,
Lại hận hương hồn chẳng gặp nhau.
敘幽冤
Tự u oan
Kể nỗi oan khuất
痛填心兮不能語,
Thống điền tâm hề bất năng ngữ,
Đau nghẹn trong tim, chẳng nói nên lời,
寸斷腸兮訴何處?
Thốn đoạn trường hề tố hà xứ?
Ruột đứt từng khúc, biết kêu nơi nào?
春生萬物妾不生,
Xuân sinh vạn vật thiếp bất sinh,
Xuân sinh muôn vật, thiếp chẳng được sinh,
更恨香魂不相遇。
Cánh hận hương hồn bất tương ngộ.
Lại hận hương hồn chẳng gặp nhau.
Thái bình quảng ký quyển 341 dẫn Tây Dương tạp trở 酉陽雜俎 chép cuối năm Trinh Nguyên, một người em họ trong họ của Đoàn Văn Xương 段文昌 từ Tín An trở về Lạc Dương. Chiều tối đến Qua Châu, ông nghỉ đêm trong thuyền. Đêm đã khuya, ông ngồi gảy đàn. Bỗng bên ngoài vọng lại tiếng than thở, hễ ông ngừng đàn thì tiếng ấy cũng mất. Sự việc lặp lại ba bốn lần. Ông bèn thong thả nới dây đàn rồi trở vào ngủ. Trong mộng, ông thấy một người con gái khoảng hơn hai mươi tuổi, hình dung tiều tuỵ, áo quần rách nát. Nàng bước đến trước mặt, quỳ lạy rồi nói: “Thiếp họ Trịnh, tên Quỳnh La, vốn sống ở Đan Đồ. Cha mẹ mất sớm, thiếp nương nhờ người chị dâu goá bụa. Không may chị dâu lại qua đời, thiếp đành đến Dương Tử tìm dì. Đêm ấy, khi tới một quán trọ, thiếp bị Vương Duy Cử, con trai viên quan coi chợ, nhân lúc say rượu ép làm nhục. Biết mình không thể thoát, thiếp liền dùng khăn quàng siết cổ tự vẫn. Con trai viên quan coi chợ bèn lén chôn thiếp dưới con mương phía tây dãy hàng cá. Ngay đêm ấy, thiếp lại hiện vào giấc mộng của Thạch Nghĩa, huyện lệnh Dương Tử, nhưng rốt cuộc ông ta không chịu xét xử. Sau đó, oan khí của thiếp lại hiện lên trên mặt sông. Thạch Nghĩa vẫn cho đó là điềm mây lành, còn sai người vẽ lại rồi dâng biểu tâu lên. Thiếp ôm mối hận đã bốn mươi năm mà không một ai rửa oan. Cha mẹ thiếp khi còn sống đều giỏi đàn. Vừa rồi nghe tiếng đàn của quân, khúc nhạc kỳ diệu, âm thanh hoà hợp, thiếp bất giác tìm đến nơi đây.”
Sau đó, người em họ của Đoàn Văn Xương đi tới Ôn Cốc, thuộc huyện Hà Thanh ở phía bắc Lạc Dương, thăm người em vợ là Phàn Nguyên Tắc. Nguyên Tắc từ nhỏ đã biết một số dị thuật. Ở được vài ngày, Nguyên Tắc bỗng nói: “Huynh làm thế nào mà lại có một nữ quỷ đi theo? Xin kể rõ đầu đuôi để tôi tiễn nàng ấy đi.” Nguyên Tắc bèn thắp đèn, đốt hương và làm phép. Một lát sau, phía sau ngọn đèn vang lên tiếng sột soạt. Nguyên Tắc nói: “Nàng ta muốn xin giấy bút. Hãy đặt giấy bút vào vùng sáng của ngọn đèn.” Chẳng bao lâu, một tờ giấy kín chữ bỗng rơi xuống. Đem tới trước đèn xem thì thấy chữ viết đầy cả trang. Bài viết tựa như một thiên tạp ngôn xen những câu bảy chữ, lời lẽ hết sức thê lương, uất hận.
Nguyên Tắc lập tức sai người sao chép lại, nói rằng chữ do quỷ viết chẳng bao lâu sẽ nhoè đi rồi biến mất. Quả nhiên đến sáng, trên giấy chỉ còn những vết đen như bồ hóng, không thấy một chữ nào nữa. Nguyên Tắc lại sai chuẩn bị rượu, thịt khô và tiền giấy, chờ lúc chạng vạng đem ra ngoài đường đốt. Một luồng gió cuốn tro tàn xoáy tròn, bay thẳng lên cao mấy thước, đồng thời còn nghe văng vẳng tiếng khóc than đau đớn. Bài thơ của nữ quỷ gồm tất cả 262 chữ, đại thể kể lại nỗi oan khuất nơi cõi âm, trong đó nhiều câu khó hiểu nên không được chép lại, chỉ chép 4 câu ở trên.
Đau chất đầy tim, chẳng nên lời,
Biết nơi nào tỏ, ruột đau rời?
Xuân sinh muôn vật, thiếp không được,
Càng hận hương hồn chẳng gặp người.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.