Chưa có đánh giá nào
2 bài trả lời: 1 bản dịch, 1 thảo luận
2 người thích

Đăng bởi ngo_ai_nee vào 08/07/2007 14:49

The waste land

"Nam   Sibyllam  quidem  Cumis  ego  ipse
oculis  meis  vidi  in ampulla pendere, et cum
illi   pueri   dicerent:  Σίβυλλα  τί  θέλεις;
respondebat ilia: άποθανείν θελω".



I. THE BURIAL OF THE DEAD

APRIL is the cruellest month, breeding   
Lilacs out of the dead land, mixing   
Memory and desire, stirring   
Dull roots with spring rain.   
Winter kept us warm, covering
Earth in forgetful snow, feeding   
A little life with dried tubers.   
Summer surprised us, coming over the Starnbergersee   
With a shower of rain; we stopped in the colonnade,   
And went on in sunlight, into the Hofgarten,
And drank coffee, and talked for an hour.   
Bin gar keine Russin, stamm' aus Litauen, echt deutsch.   
And when we were children, staying at the archduke's,   
My cousin's, he took me out on a sled,   
And I was frightened. He said, Marie,
Marie, hold on tight. And down we went.   
In the mountains, there you feel free.   
I read, much of the night, and go south in the winter.   
 
What are the roots that clutch, what branches grow   
Out of this stony rubbish? Son of man,
You cannot say, or guess, for you know only   
A heap of broken images, where the sun beats,   
And the dead tree gives no shelter, the cricket no relief,   
And the dry stone no sound of water. Only   
There is shadow under this red rock,
(Come in under the shadow of this red rock),   
And I will show you something different from either   
Your shadow at morning striding behind you   
Or your shadow at evening rising to meet you;   
I will show you fear in a handful of dust.
               Frisch weht der Wind   
               Der Heimat zu.   
               Mein Irisch Kind,   
               Wo weilest du?   
'You gave me hyacinths first a year ago;
'They called me the hyacinth girl.'   
—Yet when we came back, late, from the Hyacinth garden,   
Your arms full, and your hair wet, I could not   
Speak, and my eyes failed, I was neither   
Living nor dead, and I knew nothing,
Looking into the heart of light, the silence.   
Od' und leer das Meer.   
 
Madame Sosostris, famous clairvoyante,   
Had a bad cold, nevertheless   
Is known to be the wisest woman in Europe,
With a wicked pack of cards. Here, said she,   
Is your card, the drowned Phoenician Sailor,   
(Those are pearls that were his eyes. Look!)   
Here is Belladonna, the Lady of the Rocks,   
The lady of situations.
Here is the man with three staves, and here the Wheel,   
And here is the one-eyed merchant, and this card,   
Which is blank, is something he carries on his back,   
Which I am forbidden to see. I do not find   
The Hanged Man. Fear death by water.
I see crowds of people, walking round in a ring.   
Thank you. If you see dear Mrs. Equitone,   
Tell her I bring the horoscope myself:   
One must be so careful these days.   
 
Unreal City,
Under the brown fog of a winter dawn,   
A crowd flowed over London Bridge, so many,   
I had not thought death had undone so many.   
Sighs, short and infrequent, were exhaled,   
And each man fixed his eyes before his feet.
Flowed up the hill and down King William Street,   
To where Saint Mary Woolnoth kept the hours   
With a dead sound on the final stroke of nine.   
There I saw one I knew, and stopped him, crying 'Stetson!   
'You who were with me in the ships at Mylae!
'That corpse you planted last year in your garden,   
'Has it begun to sprout? Will it bloom this year?   
'Or has the sudden frost disturbed its bed?   
'Oh keep the Dog far hence, that's friend to men,   
'Or with his nails he'll dig it up again!

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Hoàng Ái

"Nam   Sibyllam  quidem  Cumis  ego  ipse
oculis  meis  vidi  in ampulla pendere, et cum
illi   pueri   dicerent:  Σίβυλλα  τί  θέλεις;
respondebat ilia: άποθανείν θελω".
(Tôi từng nhìn thấy Xibila ở Cumai ngồi trong chai.
Khi bọn trẻ hỏi: "Bà muốn gì, Xibila?"
Xibila trả lời: "Muốn chết" (tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp cổ).

Tặng Ezra Pound
il miglior fabbro.
(bậc thầy cao hơn tôi (tiếng Italia)(1).

I. LỄ MAI TÁNG NGƯỜI CHẾT

Tháng tư là tháng khắc nghiệt, gây ra
Màu tím tử đinh hương của đất, rồi hòa
Ký ức với ước mong, và gây xúc động
Nguồn cội mơ màng bằng mưa xuân trút xuống.
Mùa đông sưởi ấm lòng ta
Chở che mặt đất bằng tuyết dày quên lãng
Nuôi cuộc đời bằng những cọng cây khô.
Mùa hè đến bất chợt trên hồ Starnbergersee(2)
Với những cơn mưa, chúng em dừng chân bên dãy cột to
Sau đó đi về Hofgarten trong ánh nắng
Chúng em uống cà phê và suốt cả giờ trò chuyện.
Bin gar keine Russin, stamm’ aus Litauen, echt deutsch.
(Em không phải người Nga, sinh ở Lít-va, là người Đức chính cống)
Ngày còn bé chúng em thường đến chơi với người anh
Hoàng tử Áo – anh ấy rủ em đi xe trượt tuyết
Thấy em sợ hãi thì anh ấy động viên:
Marie, em giữ cho chắc vào. Ta bắt đầu đầu trượt.
Giữa núi đồi sẽ thanh thoát nhẹ nhàng.
Em đọc sách ban đêm và đi về phương Nam mùa đông.

Rễ nào bám vào, cành nào mọc lên
Từ đá vỡ này? Con người trần(3)
Không thể nói ra, ước chừng, vì chỉ biết
Một đống hình vỡ, nơi ánh mặt trời đập
Cây chết không cho bóng, cào cào chẳng làm khuây(4)
Đá khô không có nước, mà chỉ có ở đây
Chiếc bóng của loài đá đỏ(5)
(Hãy đứng dưới bóng của loài đá đó)
Và em sẽ chỉ cho anh một cái gì đó
Không như cái bóng người buổi sáng ở sau lưng
Hay cái bóng buổi chiều ở trước mặt anh
Em sẽ chỉ ra trong một nắm tro tàn sợ hãi.
(Mát lành cơn gió thổi(6)
Gió thổi về quê hương.
Em nơi mô chờ đợi
Hở cô bé Ai-len?)
"Năm ngoái người trao em hyacinths(7) lần đầu tiên
Người ta gọi em là lan dạ hương thiếu nữ".
– Nhưng khi ta trở về từ vườn Hyacinth đó
Tay em đầy hoa và mái tóc đầy sương
Anh không nói nên lời, đôi mắt anh mơ màng
Dở sống, dở chết, anh không biết gì hết cả
Anh nhìn vào con tim ánh sáng – và lặng lẽ
Od’ und leer das Meer(8).
(Biển hoang vu, vời vợi, triền miên).

Bà Sosostris(9) nhìn thấu được cả những cái vô hình
Dù bà có bị cảm lạnh nhưng mà vẫn
Nổi tiếng khắp châu Âu là người đoán đúng
Với một cỗ bài. Bà nói: con bài của anh kia
Người thủy thủ bị chìm của xứ Phê-ni-xi(10).
(Hãy xem kìa: đôi mắt như ngọc châu lấp lóa)
Còn đây là Belladonna(11), bà chúa tể của bao vách đá
Bà chủ của những tình thế nọ kia.
Người đàn ông với ba cây gậy, và đây bánh xe
Còn đây là nhà thương gia một mắt
Quân này trống, có vật gì trên lưng được đặt
Thì ta chẳng nhìn ra. Không nhận ra
Người treo cổ. Hãy coi chừng chết đuối.
Ta thấy một đoàn người đi quanh vòng ấy.
Cám ơn. Nếu anh nhìn thấy ngài Equitone(12)
Thì nói rằng lá số ta mang đến cho ông
Thời buổi này hãy nhớ dè chừng, cẩn thận.

Thành phố có vẻ như trong tưởng tượng
Dưới làn sương mù của buổi sáng mùa đông
Người ta chen chúc nhau trên cầu Luân Đôn
Tôi đã không nghĩ rằng thần chết bắt nhiều người ghê gớm(13).
Những tiếng thở dài trong không trung hiếm hoi và ngắn(14)
Và mỗi người đều đưa mắt nhìn xuống bàn chân.
Đi lên đồi và đi xuống phố King William(15)
Nơi đồng hồ chuông Saint Mary Woolnoth buông xuống
Âm thanh chết của giờ thứ chín.
Tôi nhìn thấy một người quen và tôi gọi: "Stetson!
Có phải ta đã cùng chiến đấu trên tàu ở Mylae(16) không?
Cái xác mà anh chôn ở trong vườn năm ngoái
Có xanh tốt? Có nở hoa, kết trái?
Có sống qua được băng giá của đời?
Hãy tránh xa chó, chó không hẳn là bạn của người
Kẻo nó dùng móng chân của mình đào bới lại!(17)
Anh! Hypocrite lecteur! – mon semblable, – mon frère!"(18)
(Anh! Bạn đọc đạo đức giả! – người giống tôi, – người anh em của tôi!)


Trường ca "Đất hoang" in lần đầu ở tạp chí Criterion (London) tháng 10 – 1922. "Đất hoang" là biểu tượng của châu Âu sau chiến tranh thế giới I, khủng hoảng tinh thần, thiếu lòng tin... Tuy vậy ẩn ý của trường ca là những cuộc truy tìm chiếc Chén Thần (Holy Grail), chiếc chén mà Chúa Giê-su đã uống trong bữa ăn cuối cùng. Eliot lên hệ với truyền thuyết trong tác phẩm "Cành vàng" của J. Fraser. Vua Cá (Fisher King – biểu tượng của cuộc sống) bị làm bùa phép và bị giết, mặt đất trở thành đất hoang. Chàng hoàng tử Perceval (Percyvelle) giải thoát được cho nhà vua bằng cách vượt qua nhiều thử thách tìm đến Nhà Nguyện để nhận biết những nghi lễ của Chén Thần... Eliot thường xuyên so sánh, đối chiếu hiện tại với quá khứ.

Trường ca có 5 phần. Chúng tôi trích dịch phần I – là phần nổi tiếng nhất, thường được đưa vào các tuyển tập. Trong các tác phẩm của mình, Eliot dùng tiếng Anh xen lẫn với tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Italia, tiếng Hy Lạp cổ... Trung thành với nguyên tác chúng tôi dịch phần tiếng Anh còn các ngôn ngữ khác để nguyên như trong nguyên tác và thêm phần tiếng Việt trong dấu mở, đóng ngoặc.

(1) Đề từ của trường ca lấy từ tác phẩm Satyricon (chương 48) của nhà văn La Mã Arbite (Gaius) Petronius (? – 66). Xibila ở Cumai (the Cumaean sibyl) xin thần Apollo cho một cuộc sống vĩnh cửu nhưng quên xin một tuổi trẻ vĩnh cửu. Cơ thể của Xibila nhăn nheo, teo tóp bỏ được vào trong chai. Trong "Đất hoang" Xibila trở thành bà Sosostris, là người giống như nhà tiên tri mù Tiresias trong thần thoại Hy Lạp. Theo thần thoại Hy Lạp, Tiresias biến thành phụ nữ trong bảy năm rồi lại trở về làm đàn ông, sau đó trở thành người trọng tài trong cuộc tranh luận giữa các vị thần (Zeus và Hera): Ai là người nhận được nhiều hơn khoái cảm của tình yêu – đàn ông hay phụ nữ? Khoái cảm của phụ nữ mạnh hơn khoái cảm của đàn ông gấp chín lần – kết luận của Tiresias. Vì điều kết luận này mà nữ thần Hera tức giận, đã làm cho Tiresias trở thành mù nhưng được thần Zeus ban cho một cuộc sống trường thọ.
Bậc thầy cao hơn tôi (il migllior fabbro) – đây là câu trả lời của Guido Guinizelli nói về A. Daniel trong những lời trò chuyện với Dante. (Dante. Tĩnh ngục, XXVI, 112-118).

(2) Starnbergersee – hồ nước ở gần Munchen (Munich). Hofgarten là tên một công viên.

(3) Xem: Cựu ước Ê-xê-chi-ên 2:1 (chú thích của Eliot): Hỡi con người, chân ngươi hãy đứng, ta sẽ phán cùng ngươi. ở chương 37:3 Chúa hỏi Ê-xê-chi-ên: Hỡi con người, những hài cốt này có thể sống chăng? Và Ê-xê-chi-ên trả lời: Lạy Chúa Giê-hô-va, chính Chúa biết điều đó!

(4) Xem: Cựu ước_Truyền đạo 12:5 (chú thích của Eliot), nơi người truyền đạo nói về những ngày gian nan, khó nhọc:
Lúc ấy người ta sợ hãi lên cao
Đi trên đường sẽ vô cùng khiếp sợ
Và sẽ trổ bông những khóm hạnh đào
Cào cào nặng, ước ao không còn nữa.

(5)Xem: Cựu ước_Ê-sai 32:2: Sẽ có một người như nơi núp gió và chỗ che bão táp, như suối nước trong nơi đất khô, như bóng vầng đá lớn trong xứ mòn mỏi.

(6)Mát lành cơn gió thổi... lời thơ trích từ vở nhạc kịch câu chuyện tình "Tristan und Isolt" (Trixtăng và Iđơn, tiếng Đức) của Richard Wagne (1813-1883).

(7)Hyacinth – theo thần thoại Hy Lạp là một chàng trai trẻ đẹp. Sau khi Hyacinth chết thần Apollo lấy xác của hyacinth gieo thành loài hoa lan dạ hương.

(8)Biển hoang vu... tiếng kêu của người đầy tớ mà vua Mác sai đi nhìn ra biển xem có thấy con tàu chở Iđơn.

(9)Thầy bói có tên một Pharaon Ai Cập, Eliot lấy từ một bi kịch của A. Huxley.

(10)Xứ Phê-ni-xi (Phoenicia) – quốc gia cổ đại ở vùng biển Địa Trung Hải.

(11) Belladonna – tên Italia của một quân bài.

(12) Equitone – cũng là tên một trong các quân bài.

(13)Xem: Dante. Địa ngục, III, 55-57 (chú thích của Eliot):
Cuốn theo sau một đoàn người dằng dặc
Đông đến mức tôi không thể nào tin được
Rằng thần chết đã nhanh tay như thế!
(Nguyễn Văn Hoàn dịch, nxb KHXH. H., 2005).

(14)Xem: Dante. Địa ngục, IV, 25-27 (chú thích của Eliot):
ở đó những gì mà tôi nghe được
Không phải tiếng kêu van mà là tiếng thở dài
Làm xáo động cả bầu không khí.
(Nguyễn Văn Hoàn dịch, nxb KHXH. H., 2005).

(15)Đồng hồ chuông của nhà thờ Saint Mary Woolnoth trên phố King William là nơi Eliot thường qua lại khi sống ở Luân Đôn. Để đi đến khu trung tâm tài chính của Luân Đôn (City) cần đi qua cầu Luân Đôn sang bờ bên kia của sông Thames.

(16)Trận đánh Mylae (Battle of Mylae) trong chiến tranh Punic giữa người Roma và người Carthaganian năm 260 – 146 tr. CN.

(17)Eliot dẫn John Webster (1580-1625), tác giả của bi kịch "Con quỉ trắng" (The White Devil, 1612) "Hãy đuổi chó sói/ Kẻ thù của con người/ Để nó không dùng móng chân đào xác chết". Đây là tiếng khóc của một phụ nữ có đứa con trai đã giết người anh em của mình rồi đào mồ chôn người anh em bị giết.

(18)Đây là một câu trong "Những bông hoa ác" (Les fleurs du mal) của Charles Baudelaire (1821- 1867).
11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Đất Hoang

Đất Hoang và bản dịch của bạn là một tác phẩm hay của Eliot, nó thể hiện được tâm trạng của Eliot sau Đệ Nhị thế chiến. Theo mình được biết thì trong "The Waste Land" còn có nhiều phần khác nữa. Bạn có thể dịch thêm những phần ấy để có thể hiểu thêm được nội dung của tác phẩm và tâm trạng của tác giả hay không?

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời