14.00
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại
2 bài trả lời: 2 thảo luận

Đăng bởi Bùi Thuỵ Đào Nguyên vào 29/02/2008 07:54

Cây bàng đã rụng lá bàng,
Cổng nhà ai đấy có nàng nhìn xa…
Giàn hồng gió tạt là là
Tóc nàng vướng mấy cánh hoa sang mùa
Bên trời bầy én lưa thưa
Mây chiều bát ngát…mơ hồ xa xôi…
Tiều phu gánh cỏ lên đồi,
Chuông chùa gần đấy gióng hồi thu không!
Quán đường heo hút lạnh lùng
Có người khép cửa thư phòng ngâm thơ.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Lời bình cho bài thơ "chiều thu" của Ngân Giang

Theo mình thấy bài thơ "Chiều thu"khá lủng củng tối nghĩa không có cảm xúc thật sự, việc vận dụng luật bằng trắc trong bài lục bát của bạn khá vớ vẩn, dùng những từ không hợp với ngữ cảnh. Việc vận dụng vần trong bài không chính xác.


VD:+ Việc vận dụng vần không chính xác như:
"Bên trời bầy én lưa thưa
mây chiều bát ngát mơ hồ xa xôi"
+ Những từ dùng không hợp ngữ cảnh như:bầy én lưa thưa, mây chiều bát ngát,gióng hồi thu không,....
Bạn Ngân Giang thân mến trên đây chỉ là những lời nhận xét chủ quan của mình, nếu bạn cảm thấy phần nào mình góp ý chưa đúng xin bạn thứ lỗi.Hãy gửi thư đến địa chỉ mail hunganhj@yahoo.com nếu bạn có gì muốn trao đổi nhé!
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Vài lời nhắn

Thưa bạn P.Anh kịp lúc:

Có lẽ cố nữ sĩ Ngân Giang không thể trả lời Mail cho bạn đựoc rồi đó, nếu bạn hẹn nữ sĩ trước năm 2002 thì có lẽ nữ sĩ sẽ ưu ái trả lời cho bạn, bạn có biết tập thơ đầu tiên của bà đựoc in vào năm mấy tuổi không? đó là hồi 16 tuổi với tên "giọt lệ xuân"
Tôi xin được trích dẫn chút tiểu sử của "bạn Ngân Giang" của bạn nhé :)

Năm 20 tuổi, bà viết cho tờ Ngọ báo, Bắc Hà và học đàn tại Hàn lâm âm nhạc do Hội Khai trí Tiến Đức chủ trì.

Năm 21 tuổi,  bà có thơ in chung trong cuốn “Duyên văn”.

Năm 22 tuổi (1938), bà rời Hà Nội vào Sài Gòn,  viết cho Điện Tín nhật báo, báo Mai. Sau đó, bà trở ra Hà Nội viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Đàn bà...

Năm sau (1939), thi phẩm “Trưng nữ vương” ra mắt, gây tiếng vang trên thi đàn.
Đầu năm 1944, bà tham gia mặt trận Việt Minh. Và cũng trong năm này, bà cho in tập thơ  “Tiếng vọng sông Ngân”.

Năm 1945, bà bị hiến binh Nhật bắt ở nhà Dầu (Khâm Thiên), bị giam cầm khoảng một tháng. Khi được tha, bà tham gia cướp chính quyền rồi được cử làm Trưởng đoàn phụ nữ Cứu quốc TP. Hà Nội, sau phụ trách Phòng Tuyên truyền đường lối chính sách của Mặt trận Việt Minh.

Năm 1946, Ngân Giang phụ trách Ban Lễ tân Bộ Nội vụ, cho in cuốn “Những ngày trong hiến binh Nhật”, nhưng sách vừa in xong chưa kịp hành, thì toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Ngay sau đó, bà ra chiến khu công tác tại Sở tuyên truyền liên khu I.

Năm 1949, do hoàn cảnh gia đình, bà quay về Hà Nội, vẫn làm thơ đăng trên các báo ''Hồ Gươm, Quê hương, Tia sáng, Giang sơn''...ký bút danh “Nàng không tên”.

Năm 1954 hòa bình lập lại, Ngân Giang làm việc ở Sở văn hóa Hà Nội.

Năm 1957, bà được kết nạp chính thức vào Hội Nhà Văn Việt Nam.

Năm 1958 - 1961, bà làm việc tại Hội Nhà Văn Việt Nam.

Từ năm 1961, được sự đồng ý của Hội Nhà Văn, bà về quê sinh sống và hoạt động văn nghệ quần chúng. Tại đây bà khước từ quan hệ với một người đàn ông nên bị ông ta thù ghét, thường xuyên viết thư nặc danh vu cáo là "Nhân văn", là thiếu phẩm hạnh v.v. Bị bức bách về tinh thần, buồn chán, Ngân Giang quay trở lại Hà Nội.
(theo Tự điển Văn học bộ mới).


Chú ý đến ngôn từ, đừng vì chút nho nhỏ kiến thức mà làm đau lòng người đã khuất

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời