Nếu xưa quen biết cụ Đài(*)
Thì tôi đã chẳng trách ngài đào hoa
Yêu chim, yêu gió, yêu hoa
Yêu dòng nước mát, yêu nhà thú muông.
Ngài nhìn đất bỏ hoang mương
Nhìn cây gục ngã, ruộng vườn xác xơ
Hẳn ngài sẽ chẳng làm ngơ
Thét lên phẫn nộ, sững sờ đắng cay.

​Cụ rằng: “Lý lẽ thế này:
Ta không muốn nghe những ngày than van.
Vui chi giữa chốn gian nan?
Kỷ nguyên đau ốm, nát tan say vùi.
Nếu ta trở lại cứu đời
Giảm đi đau khổ cho người thế gian
Ta đây định ước rõ ràng:
Làm người xứ Gascogne, nồng nàn mến yêu.

​Nơi đây cảnh sắc mỹ miều
Gái xinh tươi tắn, sớm chiều hát vang.
Luật ban: Thú được làm vương
Bánh mì no đủ, bốn phương hoà bình.
Ngụ ngôn là mẫu rạng vinh
Cho bao hậu thế soi mình noi theo.
Ban công cao vút tiếng reo:
Tự hào Gascogne, thuận chèo mát tay!”


(*) “Fontaine” trong tiếng Pháp nghĩa là “suối” hoặc “đài phun nước” (fountain). Người Việt xưa hay dịch hoặc chơi chữ tên ông theo nghĩa đen, gọi ông là “cụ Đài” (cụ = ông cụ, cách xưng hô tôn kính với bậc tiền bối, nhà văn lớn) để dễ nhớ và gần gũi. Tương tự như cách gọi các tác giả phương Tây khác bằng biệt danh giản dị. Nguyễn Văn Vĩnh (nhà tân học, dịch giả nổi tiếng đầu thế kỷ 20) là người đưa ngụ ngôn La Fontaine phổ biến rộng rãi ở Việt Nam qua bản dịch thơ văn vần (bắt đầu từ 1907, in sách sau này). Ông chuyển âm tên ông thành Lã Phụng Tiên (hoặc La Phụng Tiên), nhưng cách gọi “cụ Đài” vẫn lưu truyền trong dân gian và sách giáo khoa vì ý nghĩa gần gũi, dễ thuộc (liên quan đến “đài/suối”). Các bản dịch của cụ Vĩnh giúp thế hệ học sinh Việt Nam quen thuộc với Ve và Kiến, Cáo và Quạ, Thỏ và Rùa... nên biệt danh này càng phổ biến.