Bài “Nốt lặng chiều” mang màu sắc thơ buồn kiểu cổ phong pha hiện đại: có rượu, trăng, quê nhà, xứ sở xa, bóng đêm, nỗi cô độc. Bài tạo được một không khí trầm và cô tịch khá rõ, đồng thời cho thấy tác giả có ý thức về nhạc điệu và hình tượng. Mang giọng điệu hoài cổ, u sầu, mượn rượu và ánh trăng để trải lòng về nỗi cô đơn của kẻ tha hương. Trước hết, phải dành lời khen cho tác giả vì bài thơ này có cấu trúc vần luật chuẩn mực. Bài thơ tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc trắc tuyệt của thơ Đường. Say đối với tỉnh; hồn chạm sóng đối với bóng nghiêng đồi.

Quê nhà đối với xứ sở; vắng mãi đối với xa hoài; sầu đen mộng đối với lệ đẫm môi.
Cách đối này giúp hai khổ giữa của bài thơ có sức nặng, bộc lộ rõ nét tâm trạng chông chênh, giằng xé của nhân vật trữ tình.
Tuy nhiên, khi đọc kỹ, bài vẫn bộc lộ sự pha trộn giữa những câu có thần và những câu còn mang tính “làm thơ” nhiều hơn là thật sự sống bằng hình ảnh.
Điểm nổi bật là không khí cô độc được dựng khá tốt
Ngay từ hai câu đầu:
“Chiều gom vạt nắng nửa sân rồi
Rượu vẫn lưng bầu hắn chẳng thôi”
Đã dựng được một cảnh rất buồn:
Chiều tàn,
Nắng rút dần,
Một kẻ uống rượu triền miên.
“Chiều gom vạt nắng” là hình ảnh có chất thơ. Nó khiến buổi chiều như đang tự thu mình lại trước khi tối xuống.
Và thêm nữa là có chất giang hồ – lữ thứ
Những câu:
“Quê nhà vắng mãi sầu đen mộng
Xứ sở xa hoài lệ đẫm môi”
Gợi cảm giác:
Tha hương, lưu lạc cô,độc nơi đất khách.
Dù cách diễn đạt còn hơi nặng tay, nhưng cảm xúc lữ thứ hiện khá rõ.
Hai câu kết là phần hay nhất
“Những lúc nhìn trăng tàn dọc hẻm
Mình ta lặng lẽ dưới sương ngồi.”
Đây là đoạn đẹp nhất bài.
Đặc biệt:
“dưới sương ngồi”
Có độ tĩnh và lạnh.
Nó tạo được:
Không gian khuya,
Sự im lặng,
Nỗi cô đơn kéo dài.
Câu cuối không cố triết lý mà chỉ đặt một dáng ngồi cô độc — đó là cách kết có dư âm hơn nhiều câu phía trên.
Nhưng thể không nhắn đến những yếu tố trong bài còn có phần chưa được tốt. Một số câu bị “nặng chữ”
Ví dụ:
“Quê nhà vắng mãi sầu đen mộng”
là câu khá khó cảm.
Vấn đề là quá nhiều từ mang tính buồn được chồng lên nhau:
vắng, sầu, đen, mộng.
Nhưng chúng chưa liên kết thành một hình tượng rõ. Người đọc nhận ra tâm trạng buồn, nhưng khó hình dung cụ thể.
Đây là kiểu thơ dễ rơi vào “không khí buồn” thay vì hình ảnh buồn.
Và đại từ “hắn” có phần hơi chênh giọng
Câu:
“Rượu vẫn lưng bầu hắn chẳng thôi”
dùng “hắn” khá lạ trong toàn bài.
“Hắn” thường tạo cảm giác:
ngang tàng,
bụi bặm,
hoặc có chút tự giễu kiểu giang hồ.
Trong khi phần còn lại của bài lại thiên về u uất và trữ tình cổ điển. Vì vậy giọng điệu hơi lệch nhau.
Nếu tác giả chủ ý tạo chất phong trần thì cũng có lý, nhưng bài chưa đủ cá tính để chữ “hắn” trở thành điểm nhấn thật mạnh. Hãy chú ý đến cách nhân vật tự gọi mình ở câu 2 và câu 8:
Câu 2: “Rượu vẫn lưng bầu hắn chẳng thôi”. Dùng từ “hắn” (ngôi thứ ba). Cách dùng này mang sắc thái tự trào, phân thân nhìn lại chính mình đầy ngông nghênh, bất cần.
Câu 8: “Mình ta lặng lẽ dưới sương ngồi.” Đột ngột chuyển sang “Mình ta” (ngôi thứ nhất).Sự thay đổi từ “hắn” sang “mình ta” trong một bài thơ ngắn 8 câu làm đứt gãy tính nhất quán của cái tôi trữ tình.
Bài dùng nhiều mô típ quen Có ảnh hưởng rõ của thơ cổ nhưng chưa tiêu hoá hết:
Chiều tàn, rượu, trăng tàn, quê xa, lệ môi, sương ngồi.
Điều này tạo chất cổ phong, nhưng cũng khiến bài có cảm giác như đang đi trong dấu chân thơ cũ nhiều hơn là mở được tiếng nói riêng.
Trong 1 số trường hợp ý và hình đôi lúc chưa khớp
“Để những lần say hồn chạm sóng
Rồi đêm lại tỉnh bóng nghiêng đồi”
“Hồn chạm sóng” là hình ảnh khá mơ hồ.
Sóng gì?
Sóng lòng?
Sóng đời?
Sóng rượu?
Trong khi:
“bóng nghiêng đồi”
Cũng chưa thật rõ chủ thể.
Bài nhiều câu tạo cảm giác “có thơ”, nhưng nếu phân tích kỹ thì hình tượng chưa thật sắc nét.
Từ ngữ “gượng ép” và thi liệu lối mòn
Cụm từ “sầu đen mộng” ở câu 5 nghe khá lạ nhưng lại mang cảm giác hơi gượng. Tác giả cố tạo ra một khái niệm mạnh (“đen mộng” – nỗi sầu làm đen tối giấc mộng hay giấc mộng màu đen?), nhưng nó khiến câu thơ bị nặng nề về mặt tu từ. Ngoài ra, các thi liệu như rượu, bầu, trăng, sương, lệ đẫm môi đều là những hình ảnh ước lệ quá quen thuộc trong thơ cổ, chưa có sự sáng tạo hay đột phá mang dấu ấn cá nhân.
Nhìn chung đây là bài thơ có:
không khí tốt, nhạc tính khá, và vài hình ảnh cô tịch đẹp.
Đặc biệt đoạn kết có khả năng lưu lại dư âm.
Tuy nhiên bài còn mắc kiểu thường thấy ở thơ buồn:
dùng nhiều từ gợi sầu, nhưng chưa đủ hình tượng cụ thể để nỗi buồn trở nên sắc và ám ảnh.
Nó thành công ở việc tạo “mood” hơn là tạo chiều sâu tư tưởng hay ngôn ngữ độc đáo.
Nếu tác giả tiết chế bớt các chữ mang tính “thi vị hoá nỗi buồn” như: sầu, lệ, mộng, và thay bằng hình ảnh cụ thể hơn, bài sẽ mạnh hơn rất nhiều. “Nốt lặng chiều” là một bài thơ Đường luật đạt điểm giỏi về mặt thủ pháp kỹ thuật. Tác giả là người nắm rất vững luật thơ. Tuy nhiên, bài thơ bị “vết hằn” của việc gò luật ép vần (nhất là câu cuối) và sự thiếu nhất quán trong ngôi kể khiến nó dừng lại ở mức một bài thơ hoạ, thơ xướng hoạ chỉnh chu chứ chưa đạt đến độ xuất thần về mặt cảm xúc.