Ai về xứ Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long


Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương.

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên.

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồ xưa linh quy hỡi
Bao giờ mang trả kiếm dân ta


Chiến khu D, 1946

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 2 trang (14 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Lời bình bài thơ “Nhớ Bắc”

Đặt bài thơ vào bối cảnh những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa hết sức to lớn của nó.

Nền độc lập dân tộc mà đồng bào ta vừa giành được đang ngàn cân treo sợi tóc. Hai mươi vạn quân Tưởng đã tràn vào miền Bắc. Ở miền Nam, với âm mưu tách Nam Kỳ khỏi Việt Nam, thực dân Pháp đã thành lập nhà nước Nam Kỳ tự trị do địa chủ Nguyễn Văn Thinh đứng đầu.

Để chống lại âm mưu của kẻ thù, ngày 6-3-1946, Hồ Chủ tịch đã ký Hiệp định sơ bộ, đồng ý cho Pháp đưa quân viễn chinh ra miền Bắc. Với quyết định táo bạo này, chúng ta đã đuổi được quân Tưởng ra khỏi bờ cõi.

Cùng thời gian ấy, với tư cách làm thượng khách, Bác cũng chuẩn bị sang Pháp để đấu tranh ngoại giao bảo vệ nước Việt Nam mới khai sinh. Trước lúc lên đường, Người đã họp báo và khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Khi đến Pháp, Bác lại đanh thép tuyên bố: “Nam Bộ là miếng đất của Việt Nam. Đó là thịt của thịt chúng tôi, máu của máu chúng tôi. Sự đòi hỏi đó dựa trên những nguyên nhân về chủng tộc, lịch sử và văn hoá. Trước khi Corse trở nên đất Pháp thì Nam Bộ đã là đất Việt Nam rồi”.

Những lời tuyên bố cháy bỏng của Hồ Chủ tịch đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong trái tim mỗi người dân đất Việt.

Từ chiến khu Đ (Tây Ninh), Huỳnh Văn Nghệ đã sáng tác bài thơ bất hủ này. Mở đầu bài thơ là câu lục ngôn:

Ai về Bắc ta đi với
Câu thơ ngắt nhịp 3/3, có giọng điệu rắn rỏi, thể hiện sự lựa chọn dứt khoát của đồng bào Nam Bộ là hướng về Bắc. Hướng về cội nguồn dân tộc chứ nhất định không theo Pháp, dù chúng có giở thủ đoạn nào đi chăng nữa. Bởi với người Việt Nam, dù sống ở đâu cũng đều là con cháu Lạc Hồng.

Phát tích từ vùng đất tổ Hùng Vương, người Việt từ đời này qua đời khác đã bền bỉ Nam tiến để mở cõi biên thuỳ. Trong sâu thẳm tâm hồn những người tiên phong ấy, hình ảnh “đế đô muôn đời” (Lý Công Uẩn) luôn là khoảng trời chứa chan niềm nhung nhớ:

“Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”

Trong suốt bài thơ, từ “nhớ” được lặp lại năm lần. Và nó đặc biệt xúc động khi kết hợp với từ “thương” để thành: “nhớ thương”, “thương nhớ”. Thủ pháp nghệ thuật này đã tạo nên những đợt sóng tình cảm càng lúc càng dâng lên mãnh liệt trong tâm hồn bạn đọc.

Ở khổ thơ thứ ba có một kết cấu khá đặc biệt. Câu thứ nhất nhớ về Bắc: “Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ”, câu thứ hai hướng về Nam: “Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn”, câu thứ ba lại nhớ về Bắc: “Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ”, câu cuối cùng lại hướng về Nam: “Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng”.

Lối kết cấu xen kẽ hai hình như vậy tạo nên sự gắn bó keo sơn, không thể chia lìa giữa hai miền Nam - Bắc. Ba từ “vẫn nghe”, “vẫn nhớ”, “vẫn thương” là lời khẳng định tấm lòng thuỷ chung son sắt của đồng bào Nam Bộ với “non nước rồng tiên” của mình.

Ở phần kết tác phẩm, Huỳnh Văn Nghệ thể hiện đầy cảm động niềm tự hào của người dân Nam Bộ về “sứ mạng ngàn thu” gìn giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, trong khi luôn canh cánh bên lòng niềm hoài hương khắc khoải:
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê mơ cảnh tiên
“Kinh đô” đó là Thăng Long ngàn năm yêu dấu, là nơi hội tụ của hồn thiêng dân tộc, là niềm tự hào của mọi người dân trên đất nước Việt Nam này. Nhớ kinh đô là nhớ quê hương, là sự thể hiện sâu sắc nỗi lòng với Tổ quốc của người dân Nam Bộ.

Dòng cuối, tác giả ghi “Chiến khu Đ, 1946”. Không gian và thời gian ấy thật có ý nghĩa. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, nhân dân Nam Bộ đã lập chiến khu, anh dũng đứng lên chiến đấu chống lại âm mưu xâm lược của kẻ thù để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.

Có thể nói, đây là bài thơ mở đầu cho dòng thơ viết về khát vọng thống nhất non sông từ những ngày đầu chống Pháp năm 1946 đến ngày thắng Mỹ xâm lược năm 1975 của lịch sử văn học nước nhà.


Trần Xuân Tuyết

Theo Quân đội nhân dân
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
34.33
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Thao luan cau tho

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Có ý nghĩa gì vậy?

73.14
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Lịch sử VN?

Đơn giản vậy mà hỏi. về học lại Lịch sử Việt Nam đi. Nguyễn Hoàng la người có công mở mang bờ cỏi VN đó

Ai nói yêu thơ là lãng mạn
Xin một lần lãng mạn để yêu thơ!
33.33
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

không có tiêu đề

Mọi câu hỏi nghiêm túc đều đáng được trả lời một cách có thiện trí!

Một cánh chim thu lạc cuối ngàn...
24.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

'ĐỜI HOANG'

'Con cháu mấy đời hoang".Con cháu chưa hề là "đời hoang".Đời con cháu đều có mục đích cả.
'Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình,một ao ước,một lối sống ông cha'
(Nguyễn Khoa Điềm)

44.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Huỳnh Văn Nghệ - Nhà thơ anh hùng

Tôi vừa đọc xong cuốn người Bình Xuyên của Nguyên Hùng, trong đó có nhiều đoạn nói đến Huỳnh Văn Nghệ, khu trưởng khu 7 thời chống Pháp. Ông thực sự là một nhà thơ anh hùng, đã chỉ huy bộ đội đánh nhiều trận thắng lớn. Hình ảnh ông đợc khắc hoạ thật đẹp và hùng khi một mình đi vào tận sào huyệt của Bảy Viễn để thực hiện kế điệu hổ ly sơn, giúp cho tướng Nguyễn Bình vô hiệu hoá tên khu bộ phó giang hồ đang có tư tưởng phản bội, trong đoạn này có nhắc đến việc ông thản nhiên vùng vẫy bơi lội dưới sông Soài Rạp đầy cá sấu và có 1 tiểu đội commando do tay chân  Bảy Viễn bố trí đang rình bắn lén khiến người đọc liên tới một con rồng đang vùng vẫy trước bầy lang sói. Ông cũng là người được Bảy Viễn khâm phục bậc nhất cả về trí, dũng và sự mã thượng. Ông cũng là cánh tay phải của Tướng Nguyễn Bình đã giúp ông lập nhiều công trạng khi thống nhất các lực lượng vũ trang nam bộ thời kỳ đầu chống Pháp


Đọc: Người Bình Xuyên. Tác giả Nguyên Hùng.
    Nguyễn Bình - Huyền thoại và sự thật.
Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần
23.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về nguyên tác của bài NHỚ BẮC

Bài nguyên tác so với bài do Vinachi đưa vào Thi Viện thấy :-Câu 1 thừa chữ"Xứ";-bài viết năm 1940,chứ không phải"chiến khu D-1946".Trong tập THƠ ĐỒNG NAI,nxb Văn Học-1961 tại Hà Nội, gồm 18 bài thơ của Huỳnh Văn Nghệ,không có bài "NHỚ BẮC",có lẽ do lúc ấy đang chia cắt 2 Miền và Vấn đề Nguyễn Hoàng & Vương Triều Nguyễn còn nhiều cái còn phải "thảo luận" ?
 Bài thơ NHỚ BẮC của HVN độc đáo táo bạo ở chỗ:lần đầu tiên có bài thơ công khai đích danh ca ngợi Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng);Tuy nhiên,cái nhớ đời của bài thơ lại là cái "tứ lạ":
           Từ độ mang gươm đi mở cõi
           Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
2 câu thơ bất hủ đó hằn vào tâm khảm của bất kỳ Người Việt nào khi đi xa xứ,đi xa Hà Nội...

23.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Theo ngu ý thì hoang ở đây ý nói là lưu lạc xa nhà, xa quê

34.67
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Thảo luận

bài thơ này theo tôi hiểu thì tác giả đã nói lên nỗi lòng của "Chúa Tiên" (Nguyễn Hoàng) khi đi vào phía nam mở cỏi.

Ai nói yêu thơ là lãng mạn
Xin một lần lãng mạn để yêu thơ!
25.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Tình cảm dành cho cố hương của Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ

Theo tôi thì Huỳnh Văn Nghệ mượn hình ảnh chúa Nguyễn Hoàng để tự giãi bày nỗi lòng mình thì đúng hơn. Đọc một số tác phẩm có nhắc đến những hoạt động của Huỳnh Văn Nghệ đặc biệt là hồi ký "Quê hương rừng thẳm sông dài" của ông thì thấy ông luôn tự nhắc mình cũng như những người Nam bộ khác nhớ về gốc gác của mình là ở "xứ Bắc", ông luôn khẳng định tổ tiên của ông là người Bắc đã theo chúa Nguyễn vào Nam "mở cõi" vậy tình cảm của ông thể hiện qua bài thơ Nhớ Bắc chính là tình cảm của một người con xa xứ nhớ về cố hương.

Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần
24.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 2 trang (14 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối