Ông Xa Kính là người đời Minh làm quan tới bậc Thị lang. Thuở ông ấy còn nhỏ đi học, tối về mắc mưa lạc đàng, thấy đèn xa xa ở dựa chơn núi, đi tới nơi, thấy một cái chùa, bèn kêu cửa.

Có một đứa tiểu đồng chạy ra mà nói rằng: “Thầy dạy tôi chực ông nãy giờ.”

Xa Kính ngó thấy một tấm biển treo giữa cửa đề hai chữ Thể Huyền, bước vào chùa thấy một ông già chong đèn mà ngồi. ông già thấy Xa Kính vào, vội vã đứng dậy chào mầng. ông Xa Kính xin một cây đuốc để kiếm đàng mà về.

Ông già cười nói có đuốc ở đâu giữa nầy mà phòng xin; có lá khô nhỏ nhỏ, nhà ngươi đốt mà sưởi áo quần cho khô đã. Xa Kính hỏi nhỏ, tên riểu đồng nói tên ông già kêu là ông Tiêu Diêu, tên nó là Thiểu Cô, nghĩ là một vì quân tử ở ẩn, mới hỏi thiệt.

Ông già nói: “Xưa thầy Thể Huyền đi tu trong hang Tiêu Diêu, ta cả đời chuyên nghề làm thuốc, ta thường tới lui trong núi. Sau ta nghe có nhà ông Đào Hoằng ở tại đó, ta nhơn đi lấy thuốc, qua đó cất am đã lâu năm, bây giờ ý ta cũng muốn trở về.”

Xa Kính hơ áo rồi, bèn xin về. Ông già dạy Thiểu Cô dắt ra một con bò, biểu Xa Kính cỡi mà về; lại dạy một đứa tiểu đồng đem ra một cái cọ, ông già dở ra, lấy một mão thầy chùa mà cho. Xa Kính không chịu mà rằng: “Chí tôi dốc lo việc nước nhà, có đâu ông cho tôi đồ như vậy.”

Ông già nói: “Thuở trước ta cũng có chí giúp đời, sau bởi các người làm tướng bất tài không dùng kế ta, nước nhà phải hoạn hoạ; may ta nhờ một cái giỏ ấy mới khỏi nạn, bằng chẳng thì chẳng còn tử tế tới ngày nay; nhà ngươi nghe lời ta lãnh mão ấy, ngày sau sẽ biết.”

Xa Kính chối dài không lãnh, ông già thấy không lẽ ép nài, một than thở mà thôi. Xa Kính đứng xa xa thấy trong giỏ sắp những đồ gỗ cùng đồ thầy chùa, không có đồ chi cho lạ, bèn lên lưng bò từ giã mà về.

Vừa ra khỏi rừng, bò chạy như dông, giây phút tới nhà, Xa Kính kêu người nhà thắp đèn ra mà dắt bò, con bò liền rống lên, hoá ra cọp mà đi mất.

Sáng ngày, Xa Kính đi tìm am ông Thể Huyền, thì chẳng thấy am tự nào. Cách ít ngày ông ấy đi ngang qua phía tây cách bốn mươi dặm, thì thấy bên nền cũ ông Đạo Hoằng có một cái miễu cũ, mĩa mai chỗ đụt mưa ngày trước, trên vách có đề hai câu thơ rằng: “Dạ lương nghi hữu vô; viện tịnh nhược vô tăng.” Dấu mực còn ràng ràng, y như câu thơ ông Tô Đông Pha ngó thấy.


Nguồn: Paulus Của, Chuyện giải buồn, tập 1, in lần thứ 2, bản in Nhà hàng Rev et Curiol, Saigon, 1886