Những lần về Huế để chạy lo giấy tờ bổ túc hồ sơ du học Pháp, anh Trí thường hay trọ lại nhà cụ Nghè Tuần, nơi đây anh quen biết từ hồi còn đi học Pellerin.

Bà chị con cậu Cả Bích, mỗi lần anh đến thăm chị ở Kim Long là chị giận hờn bắt anh phải ở lại với chị, nhưng anh từ chối vì phải cần tiếp xúc nhiều, đi lại xa xôi. (Điều nầy sau khi gặp được chị Trà, nói ở sau đây, làm cho anh hối tiếc ân hạn).

Hai tiếng Bến Ngự như mê hoặc anh, nghe vừa hay vừa trang trọng. Vả lại Bến Ngự cũng là nơi người ta nói nhiều về chí sĩ Phan Bội Châu mà anh thường trông thấy con thuyền “cầm cố” của cụ.

Thỉnh thoảng, hôm nào dậy sớm, cụ ngồi trầm ngâm uống trà trước mạn thuyền, làm cho anh vừa thương yêu vừa kính trọng. Anh vẫn ước ao được hầu chuyện cụ một lần trước khi qua Pháp.

Cũng trong thời gian này, nhiều cuộc gặp gỡ kỳ thú khác đã chi phối đi một phần nào tâm sự yêu nước, yêu nòi của anh. Đó là những “chuyến đò ngang” thật dễ thương, đã đem đến cho anh những mối tình sơ ngộ lạ lùng và thích thú.

Anh không muốn qua phố bằng ngả cầu Trường Tiền vì phải chen lấn nguy hiểm. Không có gì thích thú bằng ngồi trên chiếc đò ngang, lững lờ trôi trên sông Hương êm đẹp, mơ màng tìm một vần thơ, một bóng dáng nào đó gây xúc động một cách dễ chịu.

Anh thường theo bến đò Lò Vôi qua Bạch Hổ, những khi về chợ Kẻ Vạn thăm bà chị, hoặc về Đập Đá ăn bánh bèo, một món ăn nổi tiếng, rồi thong thả xuống đò về Gia Hội.

Trong bài thơ Chuyến đò ngang anh tả mối tình sơ ngộ lạ lùng trên con đò về Gia Hội. Đúng là anh có số đào hoa, như cậu Bá tôi xem số cho anh, tiên đoán rất nặng nợ đào hoa.

Hôm ấy anh có hẹn phải qua Đập Đá để gặp một người bạn học cũ. Không gặp, anh lên đò sớm hơn dự định. Những buổi sáng sớm, đò thường đông khách. Trên đò khách đã lên nhiều. Anh tìm được một chỗ ngồi thật tốt đàng mũi đó, trên cái băng ngang.

Đang lúc thích thú, khách đi trễ lên sau, cố tìm chen một chỗ trống đứng trước mũi đò. Một bàn chân nhỏ nhắn cố sức đưa lên trước, chưa tìm được chỗ để chân, chạm vào chân anh. Nhìn lên, một thiếu nữ, áo tím than, xinh đẹp, đã tiến lên sát bên anh.

Anh bối rối, nhưng lịch sự đứng dậy, hơi rụt rè, như toan nói gì đó (chắc là muốn nhường chỗ).

Bỗng có tiếng la lớn đằng lái: “Thầy nớ ngồi xuống đi, đứng làm chi, bổ chừ (ngã đó)”. Anh có vẻ ngượng nghịu, lại vụng về ngồi xuống, làm cho chiếc đò chòng chành. Mọi người quay lại nhìn hơi soi mói một chút.

Xấu hổ anh lén nhìn qua thiếu nữ, nàng đang nhìn anh cười, vẻ như trêu đùa thiện cảm. Anh chàng xấu hổ, cúi mặt xuống bỗng chợt nhìn thấy trên mặt nước, nụ cười duyên dáng của nàng còn đuổi theo hóm hỉnh.

Bất giác, anh bật cười ra tiếng, thú vị. Thế là họ quen nhau, thật dễ dàng.

Tôi vốn biết anh có cái răng hơi khểnh, làm cho anh lúc nào cũng như cười nửa miệng. Cái răng đó quả là cái tật có lợi cho anh vô cùng. Khi thì vui vẻ giảng hoà, khi thì đồng tình thoả hiệp. Tôi nghĩ anh có số đào hoa là nhờ cái răng đó.

Câu chuyện chỉ được anh kể đến đó. Về sau mới biết một vài chi tiết trong bài thơ.

CHUYẾN ĐÒ NGANG

Chẳng hẹn hò sao gặp gỡ đây
Người thì như tỉnh kẻ như say
Trong veo làn nước soi đôi mặt
Xa tít quê nhà trở một tay
Tâm sự mới trao, bờ đã đến
Nỗi niềm chưa cạn khách về ngay
Ba sinh duyên nợ âu là thế
Một chuyến đò đưa nghĩa một ngày.
Những tháng sau đó, bạn lo công việc thì tình cờ một hôm, qua toà soạn báo Vì Chúa, gặp Hồ Lư, cái anh chàng lém lỉnh, cùng viết báo lại hay trêu chọc, vỗ vai anh: “Nè có người hỏi thăm cậu đó”… Anh cho là Hồ Lư đùa, nên không để ý. Ra về, trở lên Kim Long thăm bà chị. Chị lại đi vắng, anh lên chuyến đò Bạch Hổ về Bồ Ghè.

Bỗng anh sửng sốt, một thiếu nữ tuyệt đẹp, anh không biết đã gặp ở đâu, cúi đầu chào anh. Anh bối rối chào lại, lí nhí, ngượng ngập không nói ra được lời nào.

Về Bến Ngự vẫn còn băn khoăn mãi, nghĩ không ra, không biết là ai mà đẹp lạ lùng. Khiến anh ngẩn ngơ quên cả ăn. Cụ Nghè tưởng anh lo lắng giấy tờ nên không để ý.

Anh quyết tâm dò cho ra người đẹp ở đâu.

Luôn mấy hôm, anh lảng vảng bên bến Lò Vôi, có khi theo đò qua Bạch Hổ rồi trở về vẫn không gặp lại người đẹp. May mắn làm sao, thình lình không tính dò tìm thì lại gặp lần nữa tại chợ Kẻ Vạn đi với bà chị Phu. Thì ra anh cũng gặp một lần tại đây, nhưng vì mắc cỡ không dám nhìn rõ người đẹp nên không nhận ra chị.

Hình ảnh lộng lẫy tươi mát người con gái nầy đã làm mờ đi ít nhiều bóng giáng con đò Gia Hội, tuy nụ cười dưới nước vẫn còn nhiều hứa hẹn, anh không thể nào bỏ qua được.

Nửa năm sau đó, anh bỗng nhận được một bức thư do toà soạn báo Vì Chúa gởi cho anh. Mở ra xem chỉ có một tấm ảnh bán thân, chiếc nón bài thơ che nghiêng như úp mở với một câu thơ đề sau tấm ảnh:

Ai về Gia Hội nghe gà gáy
Hãy sớm sang sống kẻo lỡ đò.
Nhìn tấm ảnh, người trong ảnh thật duyên dáng. Hàn khen: “Còn đẹp hơn ở ngoài. Có lẽ nhờ thợ chụp khéo”.

Theo dõi anh, trông vẻ như mềm nhũn đi. Ôi chuyến đò ngang mơ ước lại trở về. Anh vội vàng làm bài thơ mượn ý hoạ bài Gởi nhạn của anh Mộng Châu:

Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây
Chậm chậm cho mình gởi mối dây
Về đến Thần Kinh khoan nghỉ đã
Ghé miền Gia Hội tỏ tình ngay
Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi
Chỉ một lòng son muốn giãi bày
Này nhạn, ta còn quên chút nữa
Trái tim non nớt tặng ai đây.
Đọc bài thơ nầy, thì ra anh chị chưa trao đổi tâm sự bao nhiêu. Cấu kết vẫn còn ẫm ờ, dò xét:

Trái tim non nớt tặng ai đây.
Hình như có ai sửa lại “tặng nàng đây”. Tôi có đọc bài nầy khi mới viết ra cho nên tôi biết anh chưa dám nói rõ. Vả lại bấy giờ đã có bóng dáng chị Trà đang đứng đâu gần đó, nên cái lững khững do dự của anh cũng cản trở ít nhiều.

Nhìn lại tấm ảnh, đọc mấy câu sau tấm ảnh, tôi doạ anh: “Coi chừng, họ thúc hối anh rồi đó. Liệu mà nhanh chân lên, chậm chạp là hút mất chuyến đò.”

Vốn Gia Hội là bến đò hoạt động rất sớm, so với nhiều nơi khác. Gà gáy đầu đã nổi đèn, nổi lửa. Hàng quán đã dọn ra, khách ăn đã thấy lục tục kéo đến bên cạnh nồi xáo bò thơm phức mùi sả, bốc hơi nghi ngút mà còn trông thấy rõ lớp váng ớt mỡ vô cùng hấp dẫn…

Giai Hội nổi tiếng bún bò rất ngon, lại rẻ tiền. Còn cơm hến nữa. Ai về Huế mà không biết thưởng thức cơm hến ở đó thì thật là đáng trách.

Họ bảo nhau, con ruốc Huế nấu chi cũng ngon. À, mà còn bắp luộc bến Cồn gần đó thật tuyệt vời. Ngọt và thơm đến ngậm mà nghe.

Cái điều quan trọng hơn hết cho anh Trí, mà tôi cũng phải lo ngại giùm cho anh, là con gái Huế đi lấy chồng rất sớm. Từ 20 tuổi trở lên là đã sợ bị chê “tra” (già). Họ nói: Thôi, hâm đi hâm lại rồi, còn chi nữa mà nói. Ối, tội nghiệp quá, mới 22, 23 (hăm hai, hăm ba) mà cũng cho là hâm đi hâm lại. Khổ chưa tề!

Thật là: “Hiếu kính đãn sầu vân mấn cải”.

Anh thường hỏi thăm có thư từ gì ở Huế gởi cho anh không? Tôi biết anh băn khoăn chờ đợi một tin tức ở Huế, bèn lấy bài Gởi nhạn anh hoạ với anh Mộng Châu, đem ra đọc rồi viết một bài khác:

Trông vời bóng nhạn lẫn theo mây
Thấp thỏm chờ mong đến phút giây
Mấy đoạn tình thơ chưa cạn nghĩa
Vài hàng tâm sự rõ lòng ngay
Ngăn sông cách núi tình trao để
Đối diện nhìn nhau ý ngại bày
Cánh thiệp nhờ chim may khỏi lạc
Hồi âm đừng để phụ lòng đây.
Tôi bảo anh: “Sao không gởi thơ nói thật với Hồ Lư nhờ anh ấy liên lạc giùm. Địa chỉ của anh chắc Hồ Lư tiết lộ đó, việc gì mà sợ?” Anh chỉ cười hoà giải rồi im lặng suy tư. Anh đang nghĩ đến con đò Bạch Hổ chăng?

Quả thật về sau anh lỡ đò, vì đò qua sông quá sớm.

Gặp lại Hồ Lư trong một chuyến hành hương La Vang, mới biết bức ảnh của Thu Hà, em cô cậu với Hồ Lư, một cựu Nữ Tu Dòng Kim Đôi, thảo nào mà mặc áo màu tím than, màu áo mà các nữ tu hoàn tục vì sức khoẻ, có thể trở lại Dòng. Thu Hà trông tin anh mà không thấy. Chỉ gặp nhau một lần trên chuyến đò ngang. Hồ Lư có nhắc khéo anh một lần mà Hàn ngốc nghếch chẳng hiểu gì. Liên lạc vì vậy mà gián đoạn. Âu là duyên số!

Con gà Gia Hội thật quái ác, gáy chi mà sớm rứa!

Lỗi cũng một phần tại anh, vốn đã lừng khừng chậm chạp, mà còn đuổi theo hai con thỏ cùng một lúc. Thế là chẳng bắt được con nào cả.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]