Trong lịch sử thi ca Việt Nam, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ độc đáo, có một vị trí đặc biệt. Hơn 60 năm qua từ khi qua đời, thơ của Hàn Mặc Tử vẫn rực sáng, mới mẻ và sẽ còn tiếp tục toả sáng...
Đánh giá: “...Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói loà rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên - trích trong lời tựa cho Tuyển tập Hàn Mặc Tử, NXB Văn học, 1987)
Lâu nay, ít người để ý xem Hàn Mặc Tử sinh nhằm ngày mấy tháng mấy tính…
Gửi bởi Vanachi vào 04/03/2006 13:41 Đã sửa 1 lần,
lần cuối bởi Vanachi
vào 09/04/2008 08:07
Trên vòm trời thơ Việt, mỗi nhà thơ chỉ xẹt ngang trời như một vì sao đổi ngôi, để lại vài tia hồi quang đã là điều may mắn. Một trong những vì sao đó: thi sĩ Phạm Hầu, người gốc Điện Bàn, Quảng Nam, sinh năm 1920, đã từng học trường Quốc học Huế và trường Mỹ thuật Đông Dương. Sinh thời, ông chỉ có một số bài thơ in báo Tao Đàn và Mùa gặt mới. Nhờ mắt xanh của hai ông Hoài Thanh - Hoài Chân, tên ông đã được ghi vào thi sử Thi nhân Việt Nam. Nếu không có cuốn sách này, chắc chắn lớp độc giả…
Nhân đọc chuyện “Cao Biền trảm long Trà Khúc” của Thuỳ Dương Tử và “Huyền thoại Cao Biểm yểm đất ở dãy Đèo Cả” của cô Văn Uyên đăng trong tạp chí Phổ thông số 244 và 247, tôi sực nhớ đến chuyện ông thầy địa lý Tàu nào đó (có phải con cháu của Cao Biền chăng?) âm mưu đào đứt lòng mạch dòng sông CÔN dưới chân HOÀNH SƠN, khiến cho nhà Tây Sơn suy vong để trả thù 3 anh em Tây Sơn đã chiếm mất long huyệt của ông tìm ra hay là để ngăn ngừa mầm mống của Việt tộc phương Nam? Vậy xin chép thuộc ra…
Đền Bạch Mã nằm ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương (nay thuộc Hà Nội). Đền này được lập ra vào khoảng cuối thế kỷ thứ IX. Sách Đại Nam nhất thống chí (quyển 13) khi giới thiệu về đền miếu của Hà Nội, đã dẫn sách Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, viết rằng:
“Vào đời Đường Hàm Thông, quan đô hộ của nhà Đường ở nước ta là Cao Biền đã cho đắp thành Đại La. Một hôm, Cao Biền ra chơi ngoài cửa Đông của thành, chợt thấy trong chỗ mây mù tối tăm, có bóng người kì dị, mặc áo hoa, cưỡi rồng đỏ, tay cầm…
Gửi bởi Vanachi vào 15/02/2006 16:02 Đã sửa 1 lần,
lần cuối bởi Vanachi
vào 15/02/2006 16:05
Năm Giáp Thân (864). (Đường, năm Hàm Thông thứ 5).
Nhà Đường dùng tổng quản kinh lược sứ Trương Nhân kiêm giữ cả các công việc Giao Châu.
Theo sách Cương mục (Trung Quốc), bấy giờ Nam Chiếu lấn cướp Ung Châu, quan quân nhà Đường thua thiệt nặng. Thừa Huấn mạo nhận có công, được thăng chức Kiểm hiệu Lĩnh Nam tiết độ. Vi Trụ biết rõ việc làm của Thừa Huấn, viết thư trình bày lên tể tướng. Nhà Đường bèn bãi chức Thừa Huấn, dùng Trương Nhân sang thay, và thêm ba vạn năm nghìn quân…
Hai ông Phan, hai nhà đại cách mạng cùng thời, cùng nổi danh, cùng nuôi ý chí phục quốc, đã sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam:
Nhất Phan tử khứ, nhất Phan hoàn, ta tai tổ quốc Thiên cổ văn chương, thiên cổ tâm sự, thuỳ vi tiên sinh? (Một Phan đã mất, một Phan còn, thương thay tổ quốc Muôn thuở văn chương, muôn thuở tâm sự, ai là tiên sinh?) - Mai Đăng Đệ
Trong cuộc đời hoạt động cứu nước, hai ông đã có nhiều cơ hội gặp nhau, ở quốc nội cũng như ở quốc ngoạị Song vì chính kiến…
Phan Bội Châu (tên cũ là Phan Văn San), hiệu Hải Thụ, sau lấy hiệu là Sào Nam (và nhiều bút danh khác) sinh ngày 26-12-1867, quê ở làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn, Nghệ Tĩnh).
Lúc nhỏ, ông nổi tiếng thông minh. Sáu tuổi đã thuộc hết Tam tự kinh, bẩy tuổi đã hiểu kinh truyện, tám tuổi đã làm thông thạo loại văn cử tử. Mười ba tuổi, đi thi ở huyện đỗ đầu. Mười sáu tuổi, đỗ đầu xứ, nên cũng gọi là đầu xứ San.
Năm lên chín tuổi, ông đã có ý thức hưởng ứng phong trào của Trần Tấn,…
Người làng Bất Nghị, thuộc tỉnh Quảng Nam (Trung Phần), hiệu là Thái Xuyên thi đỗ khoa Giáp Thìn (1904).Vốn sinh ra trong một gia đình nhà nông, hiểu được nỗi cơ cực của nhân dân, chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh thần yêu nước của phong trào Cần Vương, đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa Cần Vương do các thủ lĩnh như Nguyễn Duy Hiệu, Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến… lãnh đạo ngay tại quê hương mình, đồng thời sớm tiếp nhận làn gió mới của cách mạng thế giới thông qua sách báo của các nhà tư tưởng tiến bộ trong…
Trần Cao Vân là một trong những người cầm đầu âm mưu khởi nghĩa tại Trung Việt, do Việt Nam Quang Phục Hội chủ xướng. Ông sinh năm Bính Dần (1866) tại làng Tư Phú, tổng Đa Hoà, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Làng Tư Phú là một trong mười một làng thuộc khu đất "Gò Nổi", một khu đất sản xuất ra nhiều bậc anh tài của xứ sở như Phạm Phú Thứ, Hoàng diệu v.v.. Ông là con cụ Trần Trung Trực, thường gọi là cụ Quyền Trực, một người được sự mến chuộng của dân làng Tư Phú và cụ bà Đoàn Thị.
Phan Châu Trinh sinh năm Nhâm Tuất (1872) niên hiệu Tự Đức 26, tự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã, quê ở xã Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.Thân phụ ông là Phan Văn Bình, theo nghề võ và đã tích cực chiến đấu trong hàng ngũ Cần Vương. Thân mẫu là Lê Thị Chung, con một nhà thế gia vọng tộc tại làng Phủ Lâm rất tinh thông Hán học và có nhiều đức hạnh. Thuở thiếu thời Phan Châu Trinh được hiền mẫu ân cần chăm sóc, trong khi phụ thân mãi lo công việc võ biền. Chẳng…