Tự ý thay chồng thăng đường xử án, Bà huyện Thanh Quan là phụ nữ Việt duy nhất thời phong kiến dám “cả gan” làm điều này. Đến nay, dân gian lẫn sách vở vẫn còn lưu lại khá nhiều giai thoại khác nhau về Bà huyện Thanh Quan, trong đó có những câu chuyện về chuyện bà thăng đường thay chồng xử án.
Tương truyền bấy giờ sâm cầm (loại chim thuộc họ gà nước) là loại quý. Từ thời vua Lê, chúa Trịnh, chúng đã được sử dụng trong những bữa tiệc của bậc đế vương và những nhà quý tộc ở kinh thành. Đến đời các…
Bà huyện Thanh Quan là một nữ sĩ thời Nguyễn. Tiểu sử của bà không được hiểu biết đầy đủ. Người ta chỉ biết bà là ái nữ của một vị danh Nho, sinh quán tại làng Nghi Tàm, huyện Thọ Xương (nay là Hoàn Long, tỉnh Hà Đông). Bà lập gia đình với ông Lưu Nghị, tự là Lưu Nguyên Uẩn, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ, năm Minh Mạng thứ hai, được bổ làm tri huyện Thanh Quan. Do đó nữ sĩ được gọi là Bà huyện Thanh Quan hay Bà Thanh Quan. Trong Nam thi hợp tuyển…
Sự xuất hiện của Lý Thanh Chiếu trên từ đàn đời Tống là một bất ngờ độc đáo. Nếu xét trên bình diện lịch sử văn học Trung Quốc, tác gia văn học nữ không phải là nhiều (Thái Viêm đời Hán, Thái Diễm đời Nguỵ…). Cởi mở như đời Đường với hơn 2200 tác giả mà cũng chỉ có Tiết Đào, Đỗ Thu Nương, lại cũng không phải là hàng tác gia xuất sắc. Quả là nhà thơ nữ Trung Quốc quá hiếm hoi so với những thời đại văn chương như vậy. Huống hồ đối với tình hình xã hội tư tưởng đời Tống, sự xuất hiện của bà rõ ràng…
Nguyễn Bác Trác người Quảng Nam, đậu cử nhân, trước kia theo cụ Sào Nam xuất ngoại. Sau trở về đầu thú, được thực dân Pháp miễn tội, cùng Phạm Quỳnh chủ trương tờ Nam Phong. Được ít lâu nhờ tố giác một số đồng chí cũ (trong đó có Đặng Văn Phương tức Đặng Đình Thanh ở Cần Thơ, người đã từng du học ở Đông Kinh), Trác được bổ đi làm quan Nam Triều.
Lúc ngồi Bố Chánh Bình Định có người gởi tặng câu đối:
Tôi đã chứng kiến một cảnh thương tâm không sao quên được:
Năm 1929, như trên đã nói, tôi đi sưu tầm thơ Nôm Bình Định. Nghe tiếng thầy Bảy Phồn ở Phú Văn (thuộc làng Phú Phong, quận Bình Khê) [1] thuộc được nhiều thơ cũ, tôi tìm đến, và được đón tiếp ân cần. Thầy nói rất nhiều về Nguyễn gia phụ tử và cho biết rằng thầy là học trò của ông Nguyễn Quí Luân. Sau khi đọc cho tôi chép một ít thơ của cụ tú Khuê, cụ nghè Trì, ông Nguyễn Bá Huân, thầy…
Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường có quen biết với nhau. Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Nhậm thét bảo Thường: “Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác.” Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi vào Nam theo Nguyễn Phúc Ánh.
Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt…
Nhà thơ Lữ Tùng Anh (tên thật Nguyễn Vân Trình) sinh năm 1950 tại Quảng Ngãi – tác giả của hai câu thơ một thời rất được yêu thích tại miền Trung: “Óc tim cô đặc hồn thi sĩ/ Vắt tặng cho đời mấy giọt thơ”.
Các tác phẩm của Lữ Tùng Anh đã in như: Vũng sầu (1968), Huế buồn (1969), Ra đi giã từ hơi thở (1970), Trái sầu chín từ nỗi chết (1971)… Từ sau 1975 đến nay, ông cho ra đời thêm 12 tập thơ.
Lữ Tùng Anh theo học trung học ở Huế. Tốt nghiệp đại học tại Đà Lạt. Từ…
Tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh 12-5-1917 tại Hải Dương. Mất ở Cao Bằng năm 1950. Thâm Tâm viết không nhiều, ông mất sớm, cả đời thơ chưa được hai mươi bài. Nhưng nếu chọn mười bài tiêu biểu của thời kỳ Thơ mới, chắc chắn có Tống biệt hành. Trong kháng chiến chống Pháp, khi nền thơ còn nhiều chập chững, bài thơ Chiều mưa đường số 5 đã là bài thơ hay, vững vàng về cốt cách lẫn tình cảm.
Thơ Thâm Tâm mang cốt cách cổ điển, đẫm khí vị bi phẫn giang hồ của một thời đã xa trong lịch…
Quách Tứ lang ở Hàm Dương có người hầu mang kiếm thích văn chương, có làm bài thơ như sau:
Thanh điểu hàm bồ đào, Phi thượng kim tỉnh lan. Mỹ nhân khủng kinh khứ, Bất cảm quyển liêm khan. (Chim xanh ngậm nho chín, Bay xuống đậu bên song. Mỹ nhân sợ bay mất, Chẳng dám vén rèm trông).
Bài thơ chỉ vẻn vẹn có hai mươi chữ nhưng vô cùng súc tích. Nói theo lối ngôn ngữ học thì cái phần hàm ngôn của nó quyện chặt với phần hiển ngôn làm thành một thông báo bao hàm lượng thông tin rất…
Ông sống ở nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX (1862-1905), những năm đất nước đầy biến động. Ông được coi là một nhà thơ tài hoa đương thời. Hành trang của họ Chu có chút gì đó khác đời. Ông là con một nhà dòng dõi. Cha ông là Chu Đức Tĩnh, làm quan Ngự sử triều Tự Đức. Lớn lên, vốn thông minh dĩnh ngộ, ông được cha cho thụ học trường Nam Ngư, do cụ Phó Bảng Phạm Hi Lương ngồi dạy, vốn là trường có tiếng ở Hà Nội.
Năm 19 tuổi, Chu Mạnh Trinh lều chõng đi thi, và đỗ ngay tú tài. Sáu năm sau,…