Xin chào Ban điều hành,
Cho em hỏi là tạo tác giả thì tác giả đã đăng thơ trên mục thơ của Văn nghệ Công an có được không ạ
Cảm ơn!
Ta tịnh tâm từ tính tình tai tiếng thêm thiên tai thành tướng tài,
thiên tài
Có bạn nhé.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Xin kính nhờ ban điều hành trang thêm tác giả Nguyễn-văn-Thông, tôi xin trình bầy tiểu sử của ông (tức cũng là cha tôi để bạn thêm):
Ông Nguyễn-văn-Thông, sanh ngầy 21 tháng 12 năm 1907 tại Hanoi, trong một gia đình có cha là quan tư pháp từng có cơ hội đến và làm việc tại Mẩu Quốc nhiều năm, tích góp được một khối tài sản lớn rồi về nước dựng tư gia tại thủ đô Đông Dương. Ngay từ nhỏ đã được tiếp xúc với thơ văn và nhạc lý Tây phương, ông sớm bộc lộ nhửng tài nâng thiên bẩm về âm nhạc và thi thơ. Sau khi cách mệnh thành công, ông từng có quan hệ ngầm phức tạp với nhiều Mật thám của Việt Minh tại Saigon, có tinh thần ủng hộ Kháng chiến và đã sáng tác nhiều bổn nhạc cho kháng chiến dân tộc (tuy nhiên đến nay gia đình tôi đã làm thất lạc gần giư hết thảy, đang trong quá trình quy tập lại).
Củng trong thì gian nầy, ông có viết văn làm thơ cho cách mệnh. Trước năm 1945, bố tôi đã có nhìu tác phẩm được đăng báo tuy không nổi bật, chủ yếu về tình yêu đôi lứa và nỗi buồn u uất của người thi nhân, của dân tộc, và giòng “lịch sử thi ca” củng được ông chú trọng với nhiều tác phẩm (sau này nếu trang mở thì tôi sẻ đăng lên).
Năm 1948, vì hoàn cảnh học tập, ông xuất ngoại sang Pháp và gặp được mẹ tôi là bà Hoàng-Lan. Cả hai có thì gian dài với công việc chính là ca sĩ, hát cho hảng Oria của Ô. Quang-Tư, và đã có cơ hội được ca hát trên đài Phát thanh Paris, được công chúng ái mộ. Cả hai rút khỏi ngành ca hát vào năm 1965, tham gia vào Đảng cộng-sản Pháp (vốn đã tham gia ngay vào những năm 1950) ủng hộ nước nhà đấu tranh chống sự can thiệp của Huê-kỳ. Vừa học tập thanh nhạc vừa thu đĩa kiếm kế sanh nhai, năm năm sau ông đỗ làm giáo sư âm nhạc, lúc này bản thân ông đã luyện được một chất giọng faseltto tương đối tốt, được khán giả Pháp-ngữ yêu mến.
Sau này cuộc đời ông trôi đi êm đềm, ông mất ngầy 12 tháng 4 năm 2006, hưởng dương 99 tuổi.
Xin được gửi một trong những bài thơ cách mệnh hay nhứt cũa ông, bài “Ông Pháp-Tây”, là một trong số ít bài thơ ông mang theo bên mình khi sang Pháp quốc. Bài thơ như sau:
Quan Pháp đến,
mang theo Thánh giá,
và cả súng trường,
và tờ giấy in chữ Tự Do
đóng lên giòng chữ…«Cấm dân bản xứ sờ vào.»
Họ bảo:
«An Nam ngu tối,
chúng ông đến để soi đèn.»
Đèn họ lấy sáng lắm chăng?
soi thấy mỏ than,
soi thấy đồn điền,
soi thấy xương người
chôn dưới gốc cao su
để làm phân bón cho lợi tức.
Họ mở trường học,
dạy đất Giao Chỉ đọc chữ Pháp,
nhưng không dạy,
đọc sách làm người.
Họ dạy chúng tôi nói Bonjour,
nhưng khi dân kêu đói
thì họ đáp bằng…
báng súng.
Họ rao giảng luật pháp,
song luật chỉ để trói cổ kẻ bí cùng khốn nạn,
còn công lý
đương đi giầy Tây,
ngồi ghế đệm,
uống rượu vang
trên mồ người bản xứ.
Họ xây nhà tù nhiều hơn bệnh viện,
xây đồn lính cao hơn trường học,
xây cả nghĩa địa
mà không cần bia,
vì xác dân ta
nằm chồng lên nhau
đã đủ làm mốc lịch sử.
Họ gọi sưu thuế là «nghĩa vụ»,
gọi cướp đất là «khai hoang»,
gọi bóc lột là «kinh tế»,
và gọi máu chảy
là…
«trật tự.»
Khi dân đứng dậy,
họ bảo:
«Gây rối trị an!»
Khi dân đòi sống như con người,
họ bảo:
«Man di!»
Lạ thay,
kẻ cướp vào nhà,
giết chủ,
phóng uế,
đốt nhà,
cướp ruộng,
lại lớn tiếng nhiếc quở:
«Nhà này mất dạy!»
Rồi đến lúc gió đổi chiều,
tàu Tây rút neo,
quan Tây rơi mũ,
«văn minh» thu gọn
vào va-li.
Bán lại đất ta cho phỉ Nhật
Có công giúp An Nam
Chết đói
hằng đàn
hằng lũ
luống hai triệu con người
sống? chết?
cứ vùi lại chôn chung.
Giờ đây khi ta hỏi = còn dững gì?
Chỉ còn lại
những nấm mồ không tên,
những cánh đồng bạc tuếch,
và một chân lý xương máu:
Thực dân hút máu sống đời giết dân!
Chào bạn, tôi băn khoăn về việc bạn gõ sai chính tả rất nhiều, đặc biệt là các lỗi dấu?~ (mẩu quốc, nhửng,...), và dùng nhiều từ theo phát âm địa phương (nhìu, giòng,...) không chuẩn theo quy tắc chính tả đại trà. Vấn đề là BQT không có nhiều công sức để rà soát và biên tập lại các bài đăng, nên bạn cần có người hỗ trợ hiệu đính các nội dung của mình trước khi gửi.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Cảm ơn ban điều hành đã cất nhắc. Thú thực tôi tuy là người Việt nhưng được sinh ra và sống ở Pháp trong suốt cuộc đời, mắt tôi cũng kém nên đôi khi gõ sai, hoặc là phụ thuộc vào tiếng địa phương như bạn đã nói. Tôi xin sửa lại như sau, bạn chọn nhé:
Ông Nguyễn Văn Thông, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1907 tại Hà Nội, trong một gia đình có cha là quan tư pháp, sau thành nhà buôn, từng có cơ hội đến và làm việc tại Mẫu Quốc nhiều năm, tích góp được một khối tài sản lớn rồi về nước dựng tư gia tại thủ đô Đông Dương. Ngay từ nhỏ đã được tiếp xúc với thơ văn và nhạc lý Tây phương, ông sớm bộc lộ những tài năng thiên bẩm về âm nhạc và thi thơ. Sau khi cách mạng thành công, ông từng có quan hệ ngầm phức tạp với nhiều mật thám của Việt Minh tại Sài Gòn, có tinh thần ủng hộ Kháng chiến và đã sáng tác nhiều bản nhạc cho kháng chiến dân tộc (tuy nhiên đến nay gia đình tôi đã làm thất lạc gần như hết thảy, đang trong quá trình quy tập lại).
Cũng trong thời gian này, ông có viết văn làm thơ cho cách mạng. Trước năm 1945, bố tôi đã có nhiều tác phẩm được đăng báo, tuy không nổi bật, chủ yếu về tình yêu đôi lứa và nỗi buồn u uất của người thi nhân, của dân tộc; và dòng “lịch sử thi ca” cũng được ông chú trọng với nhiều tác phẩm (sau này nếu trang mở thì tôi sẽ đăng lên).
Năm 1948, vì hoàn cảnh học tập, ông xuất ngoại sang Pháp và gặp được mẹ tôi là bà Hoàng Lan. Cả hai có thời gian dài với công việc chính là ca sĩ, hát cho hãng Oria của ông Quang Tư, và đã có cơ hội được ca hát trên Đài Phát thanh Paris, được công chúng ái mộ. Cả hai rút khỏi ngành ca hát vào năm 1965, tham gia vào Đảng Cộng sản Pháp (vốn đã tham gia ngay từ những năm 1950), ủng hộ nước nhà đấu tranh chống sự can thiệp của Hoa Kỳ. Vừa học tập thanh nhạc vừa thu đĩa kiếm kế sinh nhai, năm năm sau ông đỗ làm giáo sư âm nhạc; lúc này bản thân ông đã luyện được một chất giọng falsetto tương đối tốt, được khán giả Pháp ngữ yêu mến.
Sau này cuộc đời ông trôi đi êm đềm. Ông mất ngày 12 tháng 4 năm 2006, hưởng thọ 99 tuổi, tro cốt được mang đến Mont-Saint-Michel rồi rải ra biển theo di nguyện của ông.
Xin trích lại thơ:
ÔNG PHÁP-TÂY
Quan Pháp đến,
mang theo Thánh giá,
và cả súng trường,
và tờ giấy in chữ Tự Do
đóng lên giòng chữ…«Cấm dân bản xứ sờ vào.»
Họ bảo:
«An Nam ngu tối,
chúng ông đến để soi đèn.»
Đèn họ lấy sáng lắm chăng?
soi thấy mỏ than,
soi thấy đồn điền,
soi thấy xương người
chôn dưới gốc cao su
để làm phân bón cho lợi tức.
Họ mở trường học,
dạy đất Giao Chỉ đọc chữ Pháp,
nhưng không dạy,
đọc sách làm người.
Họ dạy chúng tôi nói Bonjour,
nhưng khi dân kêu đói
thì họ đáp bằng…
báng súng.
Họ rao giảng luật pháp,
song luật chỉ để trói cổ kẻ bí cùng khốn nạn,
còn công lý
đương đi giầy Tây,
ngồi ghế đệm,
uống rượu vang
trên mồ người bản xứ.
Họ xây nhà tù nhiều hơn bệnh viện,
xây đồn lính cao hơn trường học,
xây cả nghĩa địa
mà không cần bia,
vì xác dân ta
nằm chồng lên nhau
đã đủ làm mốc lịch sử.
Họ gọi sưu thuế là «nghĩa vụ»,
gọi cướp đất là «khai hoang»,
gọi bóc lột là «kinh tế»,
và gọi máu chảy
là…
«trật tự.»
Khi dân đứng dậy,
họ bảo:
«Gây rối trị an!»
Khi dân đòi sống như con người,
họ bảo:
«Man di!»
Lạ thay,
kẻ cướp vào nhà,
giết chủ,
phóng uế,
đốt nhà,
cướp ruộng,
lại lớn tiếng nhiếc quở:
«Nhà này mất dạy!»
Rồi đến lúc gió đổi chiều,
tàu Tây rút neo,
quan Tây rơi mũ,
«văn minh» thu gọn
vào va-li.
Bán lại đất ta cho phỉ Nhật
Có công giúp An Nam
Chết đói
hằng đàn
hằng lũ
luống hai triệu con người
sống? chết?
cứ vùi lại chôn chung.
Giờ đây khi ta hỏi = còn dững gì?
Chỉ còn lại
những nấm mồ không tên,
những cánh đồng bạc tuếch,
và một chân lý xương máu:
Thực dân hút máu sống đời giết dân!