Trang trong tổng số 30 trang (296 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Poet Hansy

KHÔNG NÊN PHIÊN ÂM
TRONG SÁCH GIÁO KHOA


Con tôi năm nay học lớp 7. Vừa rồi cô giáo lớp con tôi ra một đề văn (bài về nhà) phân tích câu ca dao: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng". Hai từ khó hiểu không được giải thích, con tôi phải tìm hiểu.

Học sinh lớp 7 đã lớn, đã biết tìm tòi, suy nghĩ, giải thích, biện luận... Và với công cụ hỗ trợ đắc lực của máy tính, Internet ngày nay, các em có thể tự bổ sung ít nhiều kiến thức cho mình mà đôi khi trên lớp thầy cô giảng chưa hết ý.

Trong khi đó cũng lớp 7, ở môn địa lý có thể thấy toàn bộ địa danh nước ngoài đều được phiên âm tiếng Việt (đôi lúc phiên âm không đúng!). Tôi ví dụ những từ như: Xa-ha-ra, Ca-la-ha-ri, Ghi-nê, sông Nin, A-bit-gian (Cốt Đi-voa), kênh đào Xuy-ê, núi Át-lát, La-bra-đo, A-pa-lat, Cooc-đi-ê, Bô-xtơn, Oa-sinh-tơn, A-ma-dôn, Niu I-óoc, máy bay Bô-ing... như là dạy cho các em cấp I. Với cách học như sách giáo khoa, phải nói là rất khó khăn cho các em trong việc tra cứu thông tin. Tôi thử vào Google và tra cụm từ "Bô-xtơn" thì không tìm thấy một trang nào!

Bên cạnh những từ phiên âm rất khó chịu này, các em phải học về Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) mà không có sự giải thích NAFTA gồm những từ viết tắt nào! Trong khi đó với môn tiếng Anh, các em phải biết cách tra cứu từ điển, đọc theo phiên âm như thế nào cho đúng. Thậm chí bài tập trắc nghiệm môn tiếng Anh còn có những câu hỏi về cách phát âm.

Tôi đề nghị nếu có chỉnh lý sách giáo khoa, ngay từ chương trình lớp 6 không nên dùng từ phiên âm tiếng Việt để tập dần các em tư duy lớn hơn, tiếp cận cái mới nhanh hơn. Nếu có dùng từ phiên âm nên mở ngoặc thêm từ tiếng Anh bên cạnh hay ngược lại từ tiếng Anh có kèm theo phiên âm.

TÂM AN (Nha Trang)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

LẠM DỤNG VÀ NHẦM LẪN
KHI DÙNG TỪ GỐC PHÁP


Description: Description: http://static.new.tuoitre...85/images/transparent.png
Nhiều từ tiếng Pháp được Việt hoá và sử dụng rộng rãi ở nước ta. Nhưng hiện nay, một số từ tiếng Pháp bị lạm dụng (một cách vô tình hoặc cố ý), thậm chí dùng sai trong văn nói.

Dưới đây là những trường hợp thường gặp nhất:
1
Dụng cụ bấm kim được giới văn phòng gọi là a-graph. Thật ra, a-graph (agrafe) là kim bấm, còn dụng cụ bấm kim là a-grap-phơz (agrafeuse).
2
Thẻ đăng ký ôtô, môtô, xe máy được gọi một cách vắn tắt là cạc-vẹt hay cà-vẹt. Một số dịch vụ ép thẻ viết từ này trên bảng hiệu là “card vert”. Ở đây có hai nhầm lẫn về cách viết và về nghĩa của từ. Thứ nhất, cạc-vẹt hay cà-vẹt phải viết là carte verte (thẻ xanh).

Thứ hai, carte verte không phải là thẻ đăng ký xe có động cơ mà là giấy chứng nhận bảo hiểm xe cơ giới, ra đời ở châu Âu năm 1949 từ một thoả ước quốc tế xác định trách nhiệm dân sự của chủ xe và công ty bảo hiểm. Tên đúng của thẻ đăng ký xe có động cơ là carte grise (thẻ xám).
3
Một nhầm lẫn tương tự về cách viết thường thấy trên bảng hiệu dịch vụ in ấn là dòng chữ “card visit”. Cách viết đúng là carte de visite (hoặc business cards, name cards, visiting cards nếu dùng tiếng Anh).
4
Bière glacée (bia ướp lạnh) thường được phát âm là “bia lát-xê”. Vì “lát-xê” na ná với “đét-xe” (dessert: món tráng miệng) nên có người thản nhiên gọi bia ướp lạnh là “bia đét-xe”. Tráng miệng bằng bia thì quả là tửu lượng có thể sánh ngang với Tiêu Phong đại hiệp trong Thiên long bát bộ.
5
Ốp-la và ốp-lét lần lượt là âm Việt hoá của món œuf au plat (hay œuf sur le plat) và omelette (trứng rán). Trong món œuf au plat, lòng đỏ trứng còn nguyên dạng, chưa chín hoàn toàn và được bao quanh bởi lòng trắng. Trong món omelette, lòng đỏ và lòng trắng được đánh đều và thêm gia vị trước khi rán chín. Việc không phân biệt hai món ăn này có thể gây ra hiểu lầm giữa người gọi món và người phục vụ.
6
Quả hồng xiêm thường được gọi là quả xa-pô-chê. Thật ra, xa-pô-chê (sapotier) là cây hồng xiêm, còn quả của nó là xa-pô-ti (sapotille). Nhà thơ Bàng Bá Lân (1912-1988) từng đề cập đến việc này trong đoản văn Vườn tược miền Nam.
7
Các văn bản hành chính thường được đánh số đi kèm với dấu gạch xéo (/) và các chữ cái. Trong tiếng Pháp, dấu gạch xéo này được đọc là “xuyệt” (sur: trên) giống như “xuyệt” trong cụm từ “tông xuyệt tông” (ton sur ton). Nhiều người đọc dấu này là “xẹt” và gây cảm giác là lạ. Tại sao ta không đọc dấu gạch xéo này là “trên”, giống như 2/3 được đọc là “hai trên ba”?

Trừ từ ốp-la còn có tranh luận trong việc chuyển nghĩa tiếng Việt, những nhầm lẫn nói trên đều có thể tránh được nếu sử dụng từ tiếng Việt tương đương. Nếu không, bạn có nguy cơ bị xem là lập dị hoặc khoe chữ nếu phát âm đúng từ agrafeuse thay vì dùng sai agrafe như người khác.
Năm 1942, giáo sư Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) xuất bản quyển Danh từ khoa học (Vocabulaire scientifique). Trong lời nói đầu lần tái bản thứ hai (1948), tác giả cho biết gần 6.000 danh từ toán học, vật lý, cơ học, thiên văn học và hoá học trong tác phẩm của ông đều lấy ý từ tiếng Pháp. Đến nay, phần lớn các thuật ngữ này vẫn còn được sử dụng.

Không chỉ trong khoa học, nhiều từ tiếng Pháp cũng được Việt hoá và sử dụng rộng rãi trong đời sống như nhà ga (gare), bình ắc-quy (accu - viết gọn của accumulateur), ác-ti-sô (artichaut), a-mi-đan (amygdale), bê-tông (béton), nói bá láp (palabre), ban-công (balcon), băng ghế (banc), dải băng (bande), băng đảng (bande), ruy băng (ruban), viên bi (bille), bia (bière), bánh bích quy, bánh quy (biscuit), bi-da (billard), bơ (beurre), tiền boa (pourboire), áo bờ-lu (blouse), bom (bombe), đồn bót (poste), căng-tin (cantine), ca-nô (canot), cao su (caoutchouc), cáp (câble), cà phê (café), cà rốt (carotte), cà vạt (cravatte), com-pa (compas), quay cóp (copier), cua gái (faire la cour), cúp cua (cours), đầu húi cua (court), chiếc cúp (coupe), lốp xe (enveloppe), săm (chambre à air), đi văng (divan)... Đặc biệt, từ lô cốt có nguồn gốc từ blockhaus - ghép bởi hai từ gốc Đức block và haus, được dân Pháp sử dụng từ thế kỷ 18 và đang có mặt trong từ điển Larousse.


CÔNG KHANH
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

TIẾNG VIỆT
MƯỢN TỪ TIẾNG ANH


Sau khi bàn về tiếng Tàu, tiếng Pháp, chúng ta chuyển sang tiếng Anh và bước vào một nền văn hoá đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua. Có người gọi cuộc chiến vừa qua là “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc nhưng, theo báo chí phương Tây, đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”hay nói một cách khác là “cuộc đối đầu giữa hai phe”, một bên là Tự do gồm Việt Nam Cộng hoà, Mỹ và 5 nước Đồng minh (gồm Australia, New Zealand, Đại Hàn, Thái Lan và Philipin) và một bên là Cộng Sản gồm Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà, Liên Xô và Trung Quốc.


Tinh thần của bài viết này không bàn đến việc “đúng” hay “sai” của cuộc chiến mà chỉ xoáy quanh những ảnh hưởng của nền văn hoá Mỹ đối với ngôn ngữ Việt trong suốt 30 năm chiến tranh. Nước Mỹ còn được gọi là Hoa Kỳ hay Huê Kỳ (cờ hoa). Danh xưng này đã xuất hiện trong văn chương Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ 19 qua thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ”. Vũ Trọng Phụng trong Vỡ đê, xuất bản năm 1936, có đoạn viết: “…Dung tìm bao diêm ở ô kéo, đốt một cây đèn hoa kỳ lên, tắt phụt ngọn lửa ở đèn dầu xăng. Nhìn ra sân, thấy trời tối om, Dung bèn bỏ bao diêm vào túi…”.

Nguyễn Công Hoan trong Nhớ và ghi về Hà Nội giải thích:

“…Đèn Hoa Kỳ là đèn của bọn Mỹ sang ta buôn dầu hoả. Muốn bán được dầu hoả, nó phải làm đèn cho người mua dầu dùng (…). Dầu của Mỹ, viết tắt là Socony (Standard Oil Company of New York), cạnh tranh với dầu của Anh viết tắt là Shell. Bất cứ ở thành thị hay nông thôn, hễ có đại lý dầu Mỹ, là ở gần đó, có ngay đại lý dầu Anh. Và trái lại. Nhà bán dầu Mỹ có biển sơn màu vàng, nhà bán dầu Anh có biển sơn màu đỏ. Những nơi bán dầu xăng ô tô, Anh Mỹ cũng cạnh tranh như vậy. Ở Hà Nội, còn có xe dầu đi bán ở phố, cũng sơn màu của hãng… Trụ sở của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật ở phố Trần Hưng Đạo, số 39, là trụ sở cũ của hãng dầu Shell của Anh, nên quét vôi màu đỏ. Ngày trước ta gọi là nhà dầu Shell (…).

Royal Dutch Shell (người bình dân gọi là hãng dầu “con sò”) đã thực hiện một chiến dịch quảng cáo ngoạn mục là “biếu không” đèn Hoa Kỳ cho người Việt vốn chỉ quen dùng dầu lạc hay nến (bạch lạp) để thắp sáng mà không quen dùng dầu hoả. Dĩ nhiên, khi đèn Hoa Kỳ đi vào đời sống của người Việt thì cũng là lúc mọi người làm quen với việc dùng dầu hoả để đốt đèn.

Nhãn hiệu Shell lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1891 qua logo “con sò” trên thùng dầu hoả mà Marcus Samuel và các cộng sự chuyển đến vùng Viễn Đông. Nhất Thanh trong Đất lề quen thói (1968) giải thích thêm: “Cuối thế kỷ XIX người Tây đem dầu lửa, cũng gọi dầu hôi, vào dùng và bán (…). Hãng bán dầu đã chế ra thứ đèn nhỏ, ngọn lửa vừa bằng ngọn đèn dầu chay, đèn được cho không kèm theo mỗi thùng dầu bán ra, để làm quảng cáo; không rõ lúc ấy dầu lửa từ xứ nào nhập cảng, mà cái đèn kia được gọi là đèn Hoa-kỳ; ngày nay tại nhiều nhà nó vẫn là bạn cố tri bên cạnh cái điếu thuốc lào”.

Như vậy, thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ” (còn gọi là đèn “hột vịt” tại miền Nam), đốt bằng dầu hoả (còn gọi là dầu lửa hay dầu hôi), đã xuất hiện từ rất lâu, trước khi có cuộc Chiến tranh Việt Nam. Người ta còn dùng từ ngữ dầu Tây để gọi dầu hoả khi mới du nhập vào Việt Nam. Ngày xưa, loại dầu này được đựng trong thùng sắt tây như trong bức tranh Bán dầu Tây của Henri Oger năm 1909 (1). Loại thùng sắt này sau khi đựng dầu được tái chế thành thùng gánh nước hoặc cắt ra làm các vật dụng khác như đồ chơi cho trẻ em bằng thiếc.


Một trường hợp tiếng Anh khác đã du nhập vào Việt Nam từ lâu là trò chơi của trẻ con: “Oẳn tù tì” dịch từ “One, Two, Three”. Hầu như mọi người Việt đều đã từng ra cái búa, cái kéo hoặc cái bao sau khi đọc câu “Oẳn tù tì. Ra cái gì? Ra cái này!”. Hai người chơi và có một trong 3 lựa chọn, cái búa thì đập cái kéo, cái kéo thì cắt cái bao và cái bao lại bao được cái búa. Về mặt giáo dục, tiếng Anh du nhập miền Nam qua hai thời kỳ, dưới hai dạng ngôn ngữ: tiếng Anh của người Anh (British English) và tiếng Anh của người Mỹ (American English). Thời Đệ nhất Cộng hoà (1955-1963), tiếng Anh song song với tiếng Pháp, được chọn làm sinh ngữ chính và phụ, tuỳ theo sự lựa chọn của học sinh từ bậc Trung học (lớp Đệ thất trở lên). Tài liệu giảng dạy tiếng Anh vẫn lệ thuộc vào chương trình của người Pháp nên chịu ảnh hưởng của British English (còn gọi là Ăng-lê – Anglais). Một trong những sách học tiếng Anh phổ biến trong thời kỳ này là bộ L’Anglais Vivant của nhà xuất bản Hachette (Pháp).

Đệ nhị Cộng hoà (1963-1975) là thời thịnh hành của American English tại miền Nam. Điều này cũng dễ hiểu vì sự có mặt của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ngôn ngữ Sài Gòn xưa chịu ảnh hưởng sâu đậm của tiếng Mỹ trong thời kỳ này và có những vay mượn rất lý thú. OK (okay) có lẽ là một từ nổi bật nhất trong tiếng Mỹ được sử dụng rộng rãi tại miền Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Một số người cho rằng từ này bắt nguồn này bộ tộc da đỏ Choctaws ở Châu Mỹ. Chữ “okeh” của người Choctaw có nghĩa tương tự như từ OK của người Mỹ. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều tranh cãi về thuật ngữ này. Theo chuyên gia ngôn ngữ Allen Walker Read, OK là dạng viết ngắn của cụm từ “all correct”. Những người khác thì cho rằng OK là dạng chữ tắt của các từ Hy Lạp có nghĩa là mọi thứ đều ổn cả. Không phải ai cũng đồng ý với những giải thích này nên kết luận hãy còn bỏ ngỏ.

Tại miền Nam, còn phát sinh từ ngữ OK Salem, một từ ghép thường được dùng bởi giới bình dân, ít học như gái bán ba (bar), dân xích lô hoặc trẻ đánh giày. Một hình ảnh phải nói là rất xấu trên đường phố thời đó: trẻ con thường chạy theo các chú GIs (Government Issues – ám chỉ lính Mỹ vì dùng đồ chính phủ cấp phát) để chìa tay xin thuốc lá hay kẹo chewing-gum (kẹo cao su)… miệng thì OK Salem rối rít. Thuốc hút Salem có vị bạc hà (menthol), rất thịnh hành khi lính Mỹ đến Việt Nam, họ mua từ PX (Post Exchange- một hình thức Quân tiếp vụ, chỉ bán cho quân nhân Hoa Kỳ) và tuồn hàng ra thị trường chợ đen (black market). Người Sài Gòn chê Salem là loại thuốc dành cho… phụ nữ, thuốc dành cho đàn ông “sành điệu” phải kể đến Pall Mall, Lucky Strike, Philip Morris, Camel, Winston… Có điều thuốc Salem tại Mỹ được phát âm là “xê-lầm” nhưng khi sang đến Việt Nam lại biến thành “xa-lem” nên nếu có sang Mỹ mà hỏi mua thuốc “xa-lem” chắc chắn người bán sẽ lắc đầu quầy quậy!


Number one cũng là một cụm từ được dùng thường xuyên tại miền Nam với ngụ ý… số dzách hay số một. Người bình dân dùng number one thay cho good chẳng hạn như trong câu tiếng Anh “bồi”: “You number one GI!”. Phản nghĩa với number one sẽ là number ten, hoặc tệ hơn nữa là “nâm-bờ ten tháo giường” được Việt hoá từ “number ten thousand” (số mười ngàn). Ai dám bảo là dân Việt không có óc khôi hài?

Cao bồi là thuật ngữ đã đi vào ngôn ngữ miền Nam khi hàng loạt các loại “phim miền Tây” (Western movies) hay còn gọi là “phim cao-bồi”, được chiếu tại các rạp xi nê. Cowboys vốn là những chàng trai chăn bò, có người hành động một cách nghĩa hiệp “trừ gian diệt bạo” nhưng cũng có những kẻ “đầu trộm đuôi cướp” trong bối cảnh Miền Tây Hoang dã (the Wild Wild West) tại Hoa Kỳ thời lập quốc. Bên cạnh các cowboys còn có sự hiện diện của sheriff với ngôi sao trên ngực, họ là những cảnh sát do dân trong thị trấn bầu lên để thực thi luật pháp.

Phim cao bồi đầu tiên tại Mỹ thuộc loại phim câm (silent film) mang tên The Great Train Robbery được sản xuất vào năm 1903. Những phim cao bồi nổi tiếng thời Sài Gòn xưa phải kể đến Gunfight at the O.K. Corral (năm 1957 với các tài tử Burt Lancaster, Kirk Douglas), Rio Bravo (1959 với John Wayne, Dean Martin, Ricky Nelson), The Misfits (1961 với Clark Gable, Marilyn Monroe, Montgomery Clift), The Good, the Bad and the Ugly (1966 với Clint Eastwood, Lee Van Cleef), Little Big Man (1970 với Dustin Hoffman, Faye Dunaway)…

Từ ngữ cao bồi sau khi du nhập vào miền Nam lại có những biến thể về ý nghĩa. Người lái xe cao bồi được hiểu là lái ẩu, ăn mặc cao bồi là diện những bộ quần áo lố lăng, khó coi… Tôi còn nhớ, ngày xưa thường hát Học sinh hành khúc của Lê Thương với những lời ca tụng một thế hệ học sinh của tương lai đất nước:

Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau.
Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao…

Thế nhưng bài hát này đã được ai đó, chắc là mấy cậu học trò “rắn mắt”, cải biên thành:

Học sinh cao bồi mặc áo sơ mi ca rô
Học sinh là người hủ tiếu ăn hai ba tô…

Chả là học sinh chỉ có đồng phục quần xanh-áo trắng nên anh nào mặc áo ca rô thì bị “chụp mũ” là học sinh cao bồi. Còn cái vụ hủ tiếu mà ăn tới “hai, ba tô” thì phải “xét lại”, có thể vì “bí vần” nên câu trước “áo sơ mi ca rô” câu sau có vần “hủ tiếu ăn hai ba tô” chứ học sinh làm gì có tiền mà ăn nhiều đến thế.

Tiện đây cũng xin nhắc lại chuyện phim ảnh của Sài Gòn xưa. Để diễn tả một một sự kiện có tính cách kinh dị, người ta còn dùng từ ngữ “hít-cốc”, xuất xứ từ cái tên của đạo diễn Alfred Joseph Hitchcock, “ông vua phim kinh dị” của nền điện ảnh Hoa Kỳ với khoảng 50 bộ phim kéo dài suốt 6 thập kỷ. Người Sài Gòn đã có dịp xem rất nhiều phim hít-cốc “toát mồ hôi lạnh” như The Man Who Knew Too Much (1956, với James Stewart và Doris Day – trong phim này Doris Day hát bài What Will Be, Will Be – Que Sera, Sera và đoạt giải Oscar âm nhạc hay nhất), Vertigo (1958, với James Stewart, Kim Novak), Psycho (1960, với Anthony Perkins, Janet Leigh), The Birds (1963, với Tippi Hedren, Rod Taylor)…

Một trong những tác động xấu của người Mỹ đến miền Nam trong cuộc chiến vừa qua là hiện tượng xì-nách ba (snack bar) mọc lên như nấm sau cơn mưa tại Sài Gòn. Khác hẳn với snack bar nguyên thuỷ ở Hoa Kỳ, thường được hiểu là nơi bán các loại thức ăn nhẹ (snack) như hot dogs, hamburgers, french fries, potato chips, corn chips… còn kèm theo đồ uống. Sang đến Việt Nam, xì-nách ba trở thành nơi lui tới của những người lính Mỹ xa nhà để uống rượu giải sầu và được phục vụ bởi các cô gái bản xứ. Họ thường là gái quê, ít học và có chút nhan sắc, ăn mặc “thời thượng” với chiếc mini jupe ngắn cũn cỡn. Gái xì-nách ba, hay còn gọi là gái bán ba, thường chỉ ngồi uống nước ngọt hay nước trà với khách nên lính Mỹ gọi đó là Saigon Tea có giá từ 1 đến 2 đô la một ly. Các cô làm ở xì-nách ba không hẳn là gái điếm vì không phải cô nào cũng “đi khách”. Cũng từ các cô gái bán ba phát sinh ra loại tiếng Anh “giả cầy” kiểu “broken English”. Người ta nghe loáng thoáng trong câu chuyện giữa các cô “đấu hót” với lính Mỹ “Hello GI, you buy me Saigon tea” (Chào anh lính, anh mua cho em ly Sài Gòn nhé) hay còn rùng rợn với câu “No star where”, một cụm từ trấn an mà các cô dịch thẳng từ tiếng Việt Không sao đâu!

Lính Mỹ còn đưa vào Việt Nam một số thuật ngữ được dùng từ hồi chiến tranh Triều Tiên. Để gọi người đà bà lớn tuổi họ dùng mama-san, đàn ông thì gọi là papa-san còn con nít là baby-san. Cũng vì thế, trong câu chuyện ở snack bar người ta thường bắt gặp những từ này khi các cô gái bán ba muốn nói về gia đình mình. Mama-san còn được dùng để chỉ người điều hành snack bar, tương tự như tài-pán, người phụ trách điều động gái nhảy tại các dancing thời Pháp thuộc.

Kinh doanh xì-nách ba là một nghề hái ra tiền tại Sài Gòn bên cạnh những dịch vụ như tắm hơi (steam bath), mát-xa (massage) nhưng cũng chính các nghề này đã khiến cuộc sống trong xã hội mất đi sự lành mạnh, đưa đẩy một số phụ nữ vào con đường tội lỗi. Tuy nhiên, người ta cũng hiểu đó là những hệ quả không thể nào tránh khỏi của một đất nước trong tình trạng chiến tranh.

Xã hội miền Nam bên cạnh nghề thu hút một số người làm việc tại các quán ba còn có một giai cấp cao hơn, họ làm việc cho các hãng thầu tư nhân của Mỹ như hãng RMK được thành lập từ đầu thập niên 60 với các công trình xây dựng xa lộ Biên Hoà, quốc lộ 4 tại Phụng Hiệp… hoặc các cơ quan trực thuộc chính phủ Hoa Kỳ như USAID.

Nói chung, họ là những người đi làm sở Mỹ với mức lương cao nhưng phải đạt một trình độ tiếng Anh khả dĩ trong công việc hàng ngày. Những người có trình độ cao hơn thì làm thông dịch viên, ngay như Trường Sinh ngữ Quân đội cũng có những khoá đào tạo thông dịch viên đồng hoá với cấp bậc trung sỹ để về phục vụ tại các tiểu khu có cố vấn Mỹ.

Năm 2011, tại Little Saigon, đã có một buổi họp mặt “Cựu nhân viên sở Mỹ” nhân dịp Giáng sinh. Gần 400 cựu nhân viên đã đến dự cuộc hội ngộ này, đa số là những người đã từng làm việc tại Toà đại sứ, Tổng lãnh sự Mỹ, các cơ quan chuyên môn như DAO, CIA, MACV, USAID, USIS cùng những nhân viên hãng thầu RMK của tư nhân.

Cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 là thời kỳ Sài Gòn chịu ảnh hưởng từ của phong trào hippy (hippie) của Mỹ. Người ta thấy xuất hiện những từ ngữ có liên quan đến hippy như hoa hippy, hippy bụi đời, hippy choai choai, hippy yaourt… Những kiểu thời trang hippy cũng xuất hiện: váy ngắn (mini jupe, miniskirt), quần ống loe (quần chân voi), áo dài hippy thì ngắn cũn cỡn mặc chung với quần ống loe còn con trai thì tóc dài đến độ nhìn từ xa không thể nào phân biệt được giới tính…

Văn hoá hippy bao gồm từ phong cách ăn mặc “bụi” đến những tư tưởng phóng khoáng, chống lại những quy ước cứng nhắc của xã hội. Có thể nói, phong trào hippy là biến tấu của chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) theo kiểu “yêu cuồng, sống vội” với Jean Paul Sarte, Françoise Sagan từ văn hoá Pháp.


Phong trào hippy tại Sài Gòn.
Cuối thập niên 60s phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đã nở rộ tại Mỹ với khẩu hiệu “Make love not war” (làm tình chứ đừng gây chiến tranh). Biểu tượng của phong trào hippy là hoa không lá (còn gọi là hoa hippy), đó là hình tượng của Power Flower (sức mạnh của hoa) được bắt đầu từ năm 1965 tại khu Berkerly, California. Người ta còn nhớ mãi hình ảnh một cô gái hippy đã gắn hoa trên họng súng của một quân nhân thi hành nhiệm vụ giữ trật tự trong một cuộc biểu tình phản chiến.

Ở Sài Gòn, các người đẹp gắn hoa hippy lên tóc, cài lên tai, dán lên mắt kính để làm duyên. Người ta còn vẽ hoa lên xe hơi, lên xe Honda, thậm chí đôi lúc còn thấy hoa hippy xuất hiện trên cyclo, xe ba gác, xe bò. Cô em gái tôi có một chiếc áo khi ủi đồ bị than rớt cháy thủng một lỗ, thế là cô gắn luôn một cái hoa hippy, trước là để nguỵ trang sau là chạy theo… thời trang! Có thể nói Sài Gòn khi đó giống như Trăm hoa đua nở, nhại tên một chiến dịch thanh trừng chính trị ở miền Bắc.

Tôi còn nhớ, Trường Sinh ngữ Quân đội vào cuối thập niên 60 có một Chuẩn uý từ Thủ Đức về. Anh Thịnh là một chuẩn uý trẻ, có học vị cao nhưng lại rất lè phè trong lối sống. Hằng ngày anh đến trường bằng chiếc xe hơi bỏ mui (decapotable) được trang trí bằng những bông hoa hippy. Thế là anh chuẩn uý trẻ có tên “Thịnh Hippy” kể từ đó. Có thể nói, phong trào hippy cũng lan rộng đến người lính qua chuyện về “Thịnh Hippy” nhưng nói chung, những người lính trận mỗi khi có dịp đi phép về thành phố chắc chắn không thể chấp nhận lối sống hippy của các thanh niên, thiếu nữ tại chốn phồn hoa đô hội.

Những người hằng ngày phải đương đầu với súng đạn làm sao có thể “thông cảm” với những người hằng đêm đi “bum” tại các phòng trà, dancing. Một đằng thì phải hy sinh tính mạng để “tham chiến” còn một đằng thì lại ăn chơi để “phản chiến”. Đó là một trong những “mâu thuẫn” trong chiến tranh Việt Nam. Phải chăng đó cũng là một trong những lý do khiến miền Nam sụp đổ?

Nguyễn Ngọc Chính
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

TÀN MẠN VỀ SINH NGỮ
TRONG TIẾNG VIỆT


Ngôn ngữ đời sống cũng có đời sống riêng. Nó có số phận. Nó cũng sinh ra, tồn tại và chết đi.

Những từ như “hết sảy”, “mút chỉ” thịnh hành ở miền Nam trước năm 1975, bây giờ không mấy ai dùng nữa.

Để chỉ những người ngang tàng, không theo chuẩn, ngày xưa (trước 1975) người ta dùng từ “du côn”. Văn chương tiền chiến cho thấy ngày đó, người ta dùng từ “đàng điếm” chỉ loại thanh niên mà nửa thế kỷ sau gọi là dân “du côn”, dân “ăn chơi”…

Để chỉ những cô gái làm nghề bán trôn nuôi miệng, trước kia (trước 1954) thì dùng từ “đĩ”. Từ này sống dai ở miền Nam đến sau này, còn ở miền Bắc tuy cũng dùng từ đó nhưng không phổ biến, mỗi nơi một khác. Ở khu vực Hà Nội thì gọi là “điếm”, ở khu vực Hải Phòng gọi là “bớp”. Tất nhiên, từ “điếm” ở thủ đô sống dai, gắn với “đĩ” thành “đĩ điếm”. Nhưng thực ra từ “bớp” mới là gợi tả. Con bớp là con cá bớp. Con cá bớp ăn cua, là tập tính đặc biệt của nó. Đến con cua mà còn ăn, thì con ấy ăn mọi thứ. Phải người Hải Phòng mới hiểu vì sao gọi là “con bớp”. Ngày nay, đồng loạt gọi là “ca ve” cả.

Hồi trước năm 1945, để gọi Trung Quốc, sách báo và tài liệu nghiêm túc nước ta đều gọi là “nước Tàu”. Bây giờ gọi “Tàu” lại thành ra miệt thị. Nhưng nếu làm phim năm 1940, để cho nhân vật nói “tôi đi Trung Quốc” thì đích thị không phải ngôn ngữ của thời kỳ đó.

“Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ” là ngôn từ của những năm rất xa, từ thời Pháp thuộc, sống dai ở miền Nam (Nam kỳ lục tỉnh). Còn người miền Bắc thì gọi đơn giản “miền Bắc, miền Trung, miền Nam”. Ngày nay gọi gắn chữ “kỳ” vào lại là miệt thị. Hoặc ngày nay có từ “xe ôm”, chỉ có từ sau 1975, từ miền Nam lan toả ra cả nước.

Cũng như vậy, có một hành động, mà mỗi thời, mỗi miền gọi một khác. Đầu quân, tòng quân, nhập ngũ, đi lính, vô lính, đi bộ đội... Mỗi thời mỗi khác, mỗi miền một khác. Nghe là biết ở thời nào, miền nào.

Hiện nay, ngôn ngữ vận động rất nhanh, nhiều từ mới. Ví dụ như “thả thính”, “lầy lội”. Mấy ông già hỏi tôi: “chúng nó nói thằng ấy lầy lội lắm là sao hả?”. Hoặc từ “tự sướng” chỉ trở nên phổ biến khi có điện thoại thông minh. Ngày xưa nói đến “tự sướng” thì là ám chỉ việc khác.

Ngôn ngữ là một sinh ngữ, không bất biến. Nó cũng “tự diễn biến” như là một quy luật tất yếu, khách quan. Liệt kê ra không hết. Nhưng người biên tập văn học sử và kịch bản nên và phải biết. Nếu không thì không ra không khí lịch sử của thời đại đó. Chuyện này sẽ nói dài dài, xứng đáng là một loạt bài chứ không chỉ một bài.

Cũng có những từ phát sinh, rồi chết yểu, sau này không ai nói đến nữa. Vì nó sai, gượng ép, dùng một thời rồi thôi. Ngày nay, từ “thu giá” đang được chính phủ và Bộ Giao thông vận tải dùng nhưng chắc chắn sẽ chết. Vì nó đúng là “thu phí”. Chắc những ông bảo vệ các trạm BOT giao thông muốn người ta hiểu là thu thêm vào giá đi đường một cách chính thống. Vậy sao không bảo đó là “thu bù” cái gì đó?

Cuối cùng, một ví dụ, từ “chém gió”. Thời kháng chiến chống Mỹ không ai dùng từ đó. Ngày nay bảo “thằng này chém gió chém bão” thì ai cũng hiểu. Ngày trước phải nói “thằng này bốc phét”, trước đó nữa, thời xa hơn thì phải nói “thằng này nói khoác” hay là “thằng này khuếch khoác”.

Nguyễn Xuân Hưng
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

CHÍNH TẢ


https://1.bp.blogspot.com/-oAhIABGaBek/YMMyB-1029I/AAAAAAACQZM/EENb9YMDq18OYJ3L3ltxS_YPtV-9lHLAQCLcBGAsYHQ/w640-h306/500xxx.PNG

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

CHUẨN CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT MỚI
SẼ THAY ĐỔI NHƯ THẾ NÀO?


Sách giáo khoa mới sẽ có sự thống nhất về chuẩn chính tả trong cách viết tên riêng Việt Nam và tên riêng nước ngoài, cách đặt dấu thanh.

Bộ GD&ĐT vừa tổ chức hội thảo về chính tả trong chương trình, sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông mới.

Chia sẻ với Zing.vn, GS Nguyễn Minh Thuyết - Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông mới - cho hay thực ra, dự thảo quy định mới về chính tả không thay đổi nhiều. Điểm lớn nhất là thay đổi cách viết tên người, tên địa lý, thuật ngữ nước ngoài.
Nói cho đúng về vấn đề này, dự thảo chỉ quay lại với những quy định đã có trong Quyết định số 240/QĐ ngày 5/3/1984 do Bộ trưởng Giáo dục khi đó là bà Nguyễn Thị Bình ký.


GS Nguyễn Minh Thuyết - Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông mới. Ảnh: Mạnh Thắng.

Quy định về viết tên riêng, tên địa lý

- Thưa GS Nguyễn Minh Thuyết, vì sao Bộ GD&ĐT cần ban hành dự thảo quy định thống nhất về chính tả trong sách giáo khoa phổ thông mới?

- Đến nay, Bộ GD&ĐT đã có ba văn bản quy định về chính tả trong sách giáo khoa là: Văn bản do Bộ GD&ĐT ký với Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam năm 1980; văn bản do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký năm 1984; văn bản do Thứ trưởng GD&ĐT Đặng Huỳnh Mai ký năm 2003.

Giữa các văn bản này có nhiều quy định thống nhất, nhưng cũng không ít quy định không thống nhất với nhau. Một số quy định không còn phù hợp bối cảnh mới.
Việc ban hành quy định mới để thống nhất chính tả trong SGK rất quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 88 của Quốc hội khuyến khích nhiều tổ chức, cá nhân tham gia biên soạn SGK.

Nếu không có quy định thống nhất, khó tránh khỏi tình trạng mỗi sách giáo khoa viết một cách, gây khó khăn cho việc dạy, học và đánh giá kết quả giáo dục.

- So với các văn bản hiện hành, dự thảo có những thay đổi như thế nào?

- Thứ nhất là quy định về việc viết tên riêng Việt Nam và tên riêng nước ngoài. Quy định về cách viết tên người, tên địa lý Việt Nam về cơ bản giữ nguyên như quy định hiện hành.

Về cách viết tên tổ chức, đơn vị, chúng tôi lựa chọn quy định tại văn bản năm 2003. Cụ thể, viết hoa chữ cái đầu của mỗi từ hoặc cụm từ có tác dụng phân biệt tên riêng đó với những tên riêng khác. Ví dụ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trường Tiểu học Trần Văn Ơn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội...

Những tên người, tên địa lý đã được dịch nghĩa hoặc phiên âm qua âm Hán Việt mà quen dùng như Hắc Hải, Đại Tây Dương, Mỹ, Anh, Bắc Kinh, Đỗ Phủ, Lý Bạch… thì viết như cách viết tên người, tên địa lý tiếng Việt.

Những trường hợp còn lại sẽ có 3 hình thức xử lý: Một là viết nguyên dạng, nếu đó là tên viết bằng chữ Latin, ví dụ: Victor Hugo, Albert Einstein, Thomas Edison, Paris, New York...

Hai là, chuyển tự sang chữ Latin, nếu đó là tên viết bằng các chữ ghi âm không phải chữ Latin, ví dụ: Volga, Moskva, Sankt Peterburg...

Ba là, trường hợp không chuyển tự được thì viết như cách viết trong tiếng Anh, ví dụ: Tokyo, Fuzhou, Zhejiang, Nile, Cleopatra...

- Thưa GS, tại sao lại có sự thay đổi trong cách viết tên người nước ngoài?

- Việc áp dụng quy định này có lợi so với cách phiên âm có gạch nối, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tra cứu tài liệu và giao dịch bằng tiếng nước ngoài.

Quy định này cũng phù hợp một thực tế là theo chương trình giáo dục mới, học sinh sẽ được học ngoại ngữ từ lớp 3.

- Chương trình, SGK sẽ phải sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành, khoa học. Dự thảo quy định cách viết như thế nào?

- Trường hợp tiếng Việt đã có sẵn thuật ngữ tương ứng thuật ngữ nước ngoài hoặc việc dịch thuật ngữ sang tiếng Việt đảm bảo dễ hiểu thì sử dụng thuật ngữ tiếng Việt, ví dụ: tam giác, tam giác cân, hình bình hành, nhôm, đồng, chì, bạc, vàng…

Tuy nhiên, với những thuật ngữ có tính hệ thống, có khả năng tạo ra nhiều thuật ngữ cùng gốc hoặc các thuật ngữ dẫn chiếu đến các ký hiệu, công thức thông dụng thì cần viết nguyên dạng tiếng nước ngoài.

Ví dụ, hoá học có nhiều hợp chất, nếu dịch tên các hợp chất này sang tiếng Việt hay phiên âm theo kiểu cũ sẽ cản trở học sinh tra cứu tài liệu và giao dịch bằng tiếng nước ngoài .

Vị trí đặt dấu thanh

- Ngoài những sự thay đổi căn bản như trên, còn những quy định nào khác, thưa GS?

- Thứ nhất, quy định về viết chữ “i” hay “y” sau các phụ âm: h, k, l, m, s, t trong những âm tiết không có phụ âm cuối, ví dụ: “bác sĩ” hay “bác sỹ”, “tỉ lệ” hay “tỷ lệ”…
Trường hợp này, dự thảo quy định mới vẫn theo quy định đã có từ năm 1980 của Bộ GD&ĐT, để tránh làm xáo trộn một thói quen đã hình thành sau gần 40 năm áp dụng.
Thứ 2 là vị trí đặt dấu thanh. Dự thảo quy định đặt dấu thanh vào âm chính. Điều này phù hợp kết quả phân tích ngôn ngữ học: Trong tiếng  Việt, thanh điệu bao giờ cũng rơi vào âm chính.

Trường hợp âm chính được thể hiện bằng một chữ cái, dấu thanh được đặt trên hoặc dưới chữ cái đó, ví dụ: Nhà, vịt, hoà (trong tiếng “hoà”, dấu thanh đặt trên âm chính “a” vì “o” chỉ là âm đệm).

Trường hợp âm chính được thể hiện bằng hai chữ cái, thì:
a)
Đối với các kí hiệu ia, ua, ưa, dấu thanh đặt trên hoặc dưới chữ cái thứ nhất. Ví dụ: bìa, lụa, lửa...
b)
Đối với các kí hiệu iê, yê, uô, ươ, dấu thanh đặt trên hoặc dưới chữ cái thứ hai. Ví dụ: biển, thuyền, nhuộm, được...

- Dự thảo này bao giờ sẽ được áp dụng vào thực tế?

- Theo quy định của pháp luật, nếu được lãnh đạo Bộ GD&ĐT đồng ý, dự thảo sẽ được đưa lên Cổng thông tin điện tử của bộ này và các phương tiện thông tin đại chúng 2 tháng để xin ý kiến nhân dân.

Phạm vi áp dụng quy định này là chương trình, SGK mới. Việc sử dụng thống nhất trong toàn ngành giáo dục sẽ tạo ra một lớp người mới quen với cách viết này, dần dần những quy định mang tính hợp lý sẽ lan toả ra toàn xã hội.

Quyên Quyên
https://news.zing.vn/chua...u-the-nao-post824346.html




Cần điều chỉnh chính tả cho phù hợp

- Thưa PGS TS Phạm Văn Tình, quan điểm của ông về dự thảo quy định chính tả trong chương trình giáo dục phổ thông mới như thế nào?

- Về cơ bản, tôi hoàn toàn nhất trí. Là người nghiên cứu ngôn ngữ học, nhiều năm quan tâm tới ngôn ngữ trong nhà trường, tôi thấy có mấy lý do để ủng hộ quan điểm này.

Chính âm, chính tả là một yêu cầu quan trọng trong việc thể hiện chữ viết tiếng Việt. Cần có cách viết khoa học, hợp lý, phổ dụng đối với mọi người sử dụng tiếng Việt, đặc biệt là đối với học sinh bậc học phổ thông (mà theo thống kê, mỗi năm có trên 20 triệu người ở lứa tuổi học đường - thế hệ tương lai của đất nước).

Chuẩn hoá chính tả cần phải thống nhất trong mọi cấp học. Cách tốt nhất là phải chuẩn hoá trong sách giáo khoa để giáo viên và học sinh có căn cứ thực hiện. Đây là nguyên tắc đầu tiên.

Nhà trường đã hướng tới và thực hiện công việc này từ lâu. Các quy định như: Văn bản do Bộ GD&ĐT ký với Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam năm 1980; văn bản do Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thị Bình ký năm 1984; văn bản do Thứ trưởng GD&ĐT Đặng Huỳnh Mai ký năm 2003 vẫn có hiệu lực và về cơ bản là hợp lý. Tuy nhiên, một số trường hợp phải điều chỉnh cho tiện dụng và phù hợp xu hướng phát triển…

- Hiện nay, quy định chính tả trong trường học có gì chưa phù hợp xu hướng phát triển, hội nhập quốc tế?

- Vướng mắc nhiều nhất (không chỉ trong sách giáo khoa mà trong cả những văn bản xã hội đang thực hiện, nhất là báo chí truyền thông) là tên riêng, tên địa lý nước ngoài, tiếng dân tộc. Hiện tại, vấn đề này tồn tại mấy cách xử lý.

Thứ nhất, phiên âm có gạch nối, tức Việt hoá cách đọc, ví dụ: Mát-xcơ-va, Ác-hen-tina, Sếch-xpia, Uây-nơ Ru-ni, Giắc Lơn-đơn…

Thứ hai, dịch nghĩa, ví dụ: Quảng trường Đỏ, Biển Đen, Thái Bình Dương, Cổng Vàng, Đại lộ Danh vọng…

Thứ ba, chuyển tự, tức chuyển cách viết từ hệ thống chữ cái này sang hệ thống chữ cái khác, thường theo hướng phổ dụng hơn, như dùng chữ cái Latin thay vì dùng chữ cái Kirin, chữ Hán, chữ Nhật, chữ Hàn, chữ Sanskrit… Ví dụ: Moskva, Mendeleev, Sholokhov, Medvedev, Hao Haidong, Shinzō Abe, Park Hang-seo…

Thứ tư, nguyên dạng, ví dụ: London, Buenos Aires, Washington, Real Madrid, Zinédine Zidane, Neymar da Silva…

Dĩ nhiên, mỗi giải pháp đều có nhân tố hợp lý và có giá trị nhất định. Nhưng ta phải hướng tới giải pháp chứa nhiều yếu tố tích cực, tiện dụng và hướng tới sự thống nhất chung (với chính ta và với thế giới).

Càng ngày, người ta càng nhận thấy nguyên dạng là cách giải quyết tốt nhất, tránh phiền phức nhất. Hiện tại, học sinh phổ thông (từ lớp 1 lên lớp 12) vẫn làm quen với việc phiên âm có gạch nối (lấy cách đọc làm căn cứ). Chỉ khi lên bậc đại học, họ mới làm quen với nguyên dạng (lấy cách viết làm căn cứ).

Như vậy, chính quy định này làm phức tạp vấn đề vì người học mất thời gian để làm quen với 2 hệ thống chính tả (trong khi chỉ cần một cách viết thống nhất).

Chúng ta cũng không nên lo học sinh lớp nhỏ không quen với nguyên dạng. Các em đã học ngoại ngữ (nhất là tiếng Anh) từ tiểu học, sẽ không xa lạ gì với cách viết theo mẫu tự Latin vốn thông dụng toàn thế giới.

Viết sai chính tả do thói quen

- Ngoài những thay đổi căn bản, dự thảo còn quy định về viết chữ “i” hay “y” sau các phụ âm h, k, l, m, s, t trong những âm tiết không có phụ âm cuối quy định đã có từ năm 1980 của Bộ GD&ĐT. Thực tế hiện nay, việc sử dụng “i”, “y” trong các văn bản vẫn chưa đồng nhất theo quy định này?

- Việc quy định “i” hay “y” đã được đưa ra trong các văn bản và đưa vào quy chuẩn trong sách giáo khoa, từ điển chuẩn của Viện Ngôn ngữ học, chúng ta nên thống nhất.

Việc sử dụng này phải có cơ sở khoa học, công trình nghiên cứu kỹ càng, có logic, không phải thích dùng “i” hay “y” là được. Việc dùng nhầm lẫn là do thói quen bị sai của một số bộ phận trong xã hội.

- Cũng theo dự thảo, vị trí dấu thanh sẽ được đặt vào âm chính. Tuy nhiên, thói quen của dư luận hiện nay thường đặt dấu thanh vào âm có vị trí ở giữa, điều này có sai không, thưa ông?

- Việc đặt dấu thanh vào âm chính hoàn toàn đúng và tiện lợi cho ngôn ngữ học và công nghệ hiện nay. Ví dụ, trường hợp chữ “của” sẽ có âm chính là chữ u nên thanh được đặt vào giữa. Tuy nhiên, chữ “hoà” thì trong âm oa có chữ o là âm đệm, a là âm chính nên dấu thanh sẽ được đặt vào chữ a.

- Vậy trước khi đánh dấu thanh, người viết lại tư duy đâu là âm chính, đâu là âm phụ? Điều này có khiến mọi việc phức tạp thêm không?

- Hiện nay, sử dụng máy tính đã có những phần mềm tự động đánh dấu thanh tương đối đúng theo vản bản quy định. Chúng ta cần nắm vững đúng ngữ âm học, âm vị để đánh dấu thanh cho chính xác.

Theo lý thuyết, thanh điệu hay dấu thanh nằm trên toàn bộ phần vần hay toàn bộ âm tiết gọi là âm vị siêu đoạn tính. Vì vậy, có thể đánh dấu thanh ở bất kỳ phần vần và âm tiết. Tuy nhiên, chúng ta cần có quy định thống nhất là đánh dấu thanh vào âm vị chính để hợp nhất với ngữ âm, thẩm mỹ và xử lý âm tự.

Nếu dự thảo được đưa vào thực tế, ngành giáo dục sẽ áp dụng quy định này. Xã hội cũng nên làm theo.

Trước đó, quy định dấu thanh đánh vào âm chính đã chi tiết hoá trong quy định SGK phổ thông, cụ thể là cuốn sổ tay biên tập của NXB Giáo dục.

- Sự thay đổi theo dự thảo mới này sẽ mang lại thuận lợi, bất cập gì? Việc thay đổi có làm khó học sinh, giáo viên đang quen với chính tả cũ không thưa ông?

- Lúc đầu có thể có khó khăn với cả giáo viên và học sinh, vì bấy lâu nay vẫn áp dụng hai cách thể hiện chính tả (trong sách giáo khoa và thói quen học đường). Nhưng tôi tin mọi việc sẽ vào guồng, ổn thoả vì thực chất trở ngại này không lớn lắm.
Giải pháp nguyên dạng giải quyết được bản chất vấn đề và với trình độ của giáo viên và học sinh hiện nay thì nó sẽ nhanh chóng được tiếp nhận.

Quyên Quyên
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

NGỔN NGANG LỖI CHÍNH TẢ


“Chữ quốc ngữ có được cương vị thật sự sau Cách mạng Tháng Tám. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ văn bản nào của Nhà nước (cấp quốc gia) công nhận đó là quốc tự. Ngay cả tiếng Việt cũng chưa được ghi trong hiến pháp là ngôn ngữ quốc gia...”.

Ý kiến của GS.TS Đinh Văn Đức khiến không ít người ngỡ ngàng tại hội thảo “Xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông đại chúng”, khai mạc sáng 21-12 tại TP.HCM. Hội thảo do ba đơn vị phối hợp tổ chức: báo Thanh Niên, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐHQG TP.HCM) và Trường ĐH Sài Gòn.

Nêu ra những thiếu sót vĩ mô trong cách ứng xử với tiếng Việt như thế, GS Đinh Văn Đức cho rằng: “Do vậy, tính tự phát trong sử dụng ngôn ngữ và văn tự là tất yếu khi vắng bóng hành lang pháp lý và những chế tài điều chỉnh các hành vi”.

Lộn xộn ngôn ngữ trên biển hiệu

TS Nguyễn Hồng Cổn trình bày tình hình sử dụng ngôn ngữ và chính tả hiện nay thông qua khảo sát thực tế từ 120 biển hiệu các cửa hàng tại phố Mã Mây, Hà Nội. Qua đó, chỉ riêng việc viết địa chỉ cơ sở trên biển hiệu, ông đã ghi nhận có đến 23 trường hợp không thống nhất về chính tả.

Thực tế này được TS Cổn gọi là đáng báo động, và ông đề xuất nên có quy định thống nhất về cách sử dụng ngôn ngữ trên biển hiệu, cũng như quy định chính tả cho ngôn ngữ biển hiệu dựa trên chuẩn chính tả chung. “Chúng ta vốn đã lộn xộn trong kiến trúc rồi, nay các biển hiệu cũng lộn xộn về ngôn ngữ nữa thì bộ mặt xã hội không đẹp” - ông nhấn mạnh.

Với cách tiếp cận gần tương tự TS Nguyễn Hồng Cổn, ThS Đinh Xuân Hảo tiến hành khảo sát các “bảng truyền thông” (bảng hiệu, bảng quảng cáo, bảng thông tin, yết thị, biểu ngữ) và đưa ra báo động về lỗi chính tả trong các trường hợp này.

Bà Hảo nêu hàng loạt ví dụ thực tế về sai chính tả, từ những lỗi nho nhỏ xuất phát từ cách phát âm vùng miền như “hoa quả rầm”, “quà niu niệm” đến những lỗi lớn khó chấp nhận như dòng chữ “Văn phòng HĐND tỉnh Bạc Liêu đang khuẩn trương hoàn tất các công việc...”.

Đặc biệt, bà Hảo đã dẫn “Báo cáo tình hình chính tả văn bản tiếng Việt” do Viện Công nghệ thông tin - Đại học Quốc gia Hà Nội và Công ty CP truyền thông và công nghệ VieGrid công bố ngày 28-7-2010 cho thấy tỉ lệ lỗi chính tả trung bình của văn bản tiếng Việt là 7,79%, cao gần tám lần so với chuẩn 1%.
Hội thảo sôi động hẳn lên khi GS Đinh Văn Đức đưa tờ báo Thanh Niên làm dẫn chứng: “Ngay trang 20 số báo ra hôm nay còn đăng một đoạn tiếng Anh mà không dịch ra tiếng Việt”.

Ông Đức nêu một quan điểm thuộc chuyên môn ngôn ngữ học là “nguyên tắc tôn trọng tuyệt đối bản ngữ” để nhấn mạnh “tôi phản đối cách làm này”. Và cách ghi, phiên âm tiếng nước ngoài như thế nào vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà chuyên môn.

GS Nguyễn Minh Thuyết đề xuất Chính phủ có thể giao cho Viện Khoa học xã hội VN chủ trì xuất bản hằng tháng một tài liệu hướng dẫn cách phiên âm các tên riêng nước ngoài mới xuất hiện để thống nhất sử dụng trong phạm vi toàn quốc.

Rất cần có Luật ngôn ngữ

Các ý kiến tham luận gặp nhau ở tinh thần đề dẫn được TS Nguyễn Hữu Chương nêu rõ: Nhiệm vụ chính của hội thảo này không phải là bàn về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ mà là đưa ra ý kiến hợp lý để Nhà nước đề ra một chuẩn chính tả thống nhất.

Theo tinh thần đó, TS Nguyễn Minh Thuyết kiến nghị Chính phủ “cần sớm ban hành quyết định chính thức về bảng chữ cái tiếng Việt và tiếng các dân tộc đã có chữ viết, về một số quy tắc chính tả còn thiếu hoặc chưa thống nhất”. Ông cũng lưu ý về trường hợp đưa hay không đưa các ký tự f, j, w, z vào bảng chữ cái tiếng Việt rằng: việc bổ sung chữ cái vào bảng chữ cái không thuộc thẩm quyền cấp cục hay cấp bộ (...) mà ít ra phải do Chính phủ quy định.

Bà Đinh Xuân Hảo nhắc lại “trong vòng 20 năm qua, các cơ quan có thẩm quyền đã liên tiếp ban hành các quy định khác nhau về văn bản tiếng Việt”, và nhấn mạnh: cần sự ra đời của Luật ngôn ngữ để định hướng cho mọi hoạt động ngôn ngữ thống nhất theo đúng chuẩn.

TS Võ Văn Sen cũng cho rằng sau 400 năm hình thành và phát triển, một số vấn đề về chính tả tiếng Việt cần xem xét lại dưới góc độ khoa học và xã hội, tránh việc trong một quốc gia thống nhất lại có hai, ba hình thức chính tả khác nhau.

Ủng hộ quan điểm này, nhà nghiên cứu Trần Chút trong phần phát biểu kết luận hội thảo đã cho rằng: “Luật ngôn ngữ chắc chắn là một công cụ quan trọng để bảo vệ và phát huy “linh hồn dân tộc” của cộng đồng các dân tộc anh em trong đại gia đình Tổ quốc VN”.

Tên riêng Trung Quốc, Nhật, Hàn nên viết thế nào?

Rất nhiều vấn đề từ thực tế chính tả được các đại biểu nêu ra đã góp vào bức tranh sử dụng ngôn ngữ và thể hiện chính tả còn đang rất ngổn ngang.
TS Đoàn Lê Giang đề xuất cách viết tên riêng các nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản không theo cách phiên âm Hán Việt. Theo đó, đối với trường hợp Trung Quốc, tên người, tên đất trong thời kỳ từ đầu thế kỷ 20 trở đi thì không nên đọc/viết theo phiên âm Hán - Việt, như thế khiến cách nói và cách viết của chúng ta có vẻ dị biệt, không giống với thông lệ quốc tế, không thể hiện đúng tên người, tên đất Trung Quốc và tạo ra cảm giác gần gũi không cần thiết.

Ông nói: “Nhân danh địa danh ở thời kỳ “đồng văn” (từ thế kỷ 19) nên nhất loạt dùng phiên âm Hán - Việt. Chúng ta sẽ đọc/viết là Khổng Tử, Giả Nghị, Đào Uyên Minh, Đỗ Phủ, Tương Giang...Như vậy chúng ta vẫn đọc thơ Nguyễn Trãi theo âm ấy: “Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ/Tay còn lựa hái cúc Uyên Minh” mà không cần đọc là “Đầu tiếc đội mòn khăn Du Fu/ Tay còn lựa hái cúc Yuan Ming”!...Nhưng tên riêng Trung Quốc thời kỳ tình trạng “đồng văn” chấm dứt (từ đầu thế kỷ 20 trở đi), chúng ta nên đọc/viết theo đúng âm Bắc Kinh (bính âm). Nếu chưa thực hiện được ngay thì tên riêng Trung Quốc đương đại (từ sau 1979) nhất thiết phải đọc/viết theo quy tắc ấy”.

Còn trường hợp Nhật Bản và Hàn Quốc thì ông đề xuất nên đọc/viết theo chữ phiên âm Latin/Romaji của tiếng Nhật, Romaja của tiếng Hàn.
LAM ĐIỀN
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

LỖI CHÍNH TẢ SAI...  KHÓ SỬA


“Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”, ngôn ngữ của người Việt ta rất phong phú và đa dạng, nhiều ẩn ý. Tuy nhiên trong quá trình vận dụng ngôn ngữ vào cuộc sống và thực tiễn vẫn gặp phải những lỗi sai “ngớ ngẩn”.

Cá nhân “sai”         

Dọc các con đường, khu phố, thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp những biển quảng cáo, biển hiệu cửa hàng, áp phích mắc phải những lỗi sai chính tả. Thường thì những lỗi sai chính tả này rơi vào sai phụ âm đầu như: tr, s, x, r, d, gi



Nguyên nhân các lỗi sai này có thể do đặc trưng phát âm và dùng từ của những vùng miền khác nhau, khiến văn nói ảnh hưởng tới văn viết. Như ở miền Bắc, mắc phải những lỗi về phụ âm đầu như âm “tr” và “ch”, “r, d” với “gi”, “I” ; “y” hay “s” và “x’ do khi nói chuyện, người miền Bắc không có sự phân biệt những từ này nên khi viết dễ mắc lỗi sai. Còn như miền Trung thì hay bị lỗi về dấu, do họ không phân biệt thanh hỏi và ngã nên viết cũng hay bị sai chính tả.



Báo chí “sai”

Đôi khi, ta vẫn bắt gặp những lỗi sai chính tả trên báo chí. Những trường hợp này khá hy hữu, nhưng với báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng thì lại ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến uy tín của tờ báo, người biên tập, cách sử dụng từ vựng cũng như sự trong sáng của tiếng việt, thậm chí khiến người xem cảm thấy khó chịu.


Việc đào tạo ra những nhà báo có chuyên môn, nghiệp vụ là rất quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn gặp phải lỗi sai chính tả như này trên báo thì việc phổ biến và ngăn ngừa là rất quan trọng, phải triệt để ngay khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường thông qua các môn học về tiếng việt, ngữ pháp, cách dùng từ…

Thời gian vừa qua, dư luận xôn xao về vụ 700 bằng tốt nghiệp của sinh viên trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên sai lỗi chính tả. Nguyên nhân  là do sơ xuất của cán bộ nhà trường không kiểm tra cẩn thận trước khi in. Điều này chính là do sai sót của nhà trường, trước khi in và trước khi kí tên, đóng dấu đã không kiểm tra rõ ràng lỗi.

Sai chính tả trong trường hợp này lại thuộc về ý thức con người và sự cẩu thả trong cách làm việc của nhà in và cơ quan quản lý.


Việc sai lỗi chính tả ở những cơ quan, tổ chức như thế này là rất nghiêm trọng, bởi những gì họ viết ra không chỉ có một hay một vài người chứng kiến, mà có cả một tập thể nhìn vào. Nếu chỉ là học sinh, sinh viên thì sai có thể sửa lại hoặc bị điểm thấp, còn những cơ quan nhà nước thì sẽ bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến uy tín, tên tuổi của mình.

Sửa lỗi sai chính tả như thế nào?

Các lỗi sai chính tả phải được phân biệt từ khi các em học sinh còn học ở cấp thấp, các em phải được uốn nắn và chỉ ra các lỗi sai thường gặp để tránh dùng sai từ, sai âm cả trong văn nói và văn viết.

Trong quá trình học tập tại giảng đường Đại học, việc đưa những bộ môn như: tiếng Việt thực hành, văn học Việt Nam… vào các giảng đường là cần thiết. Sinh viên không chỉ được thực hành phát hiện lỗi sai và sửa lại mà còn được trau truốt hơn trong cách dùng từ, sử dụng câu. Những môn này đặc biệt quan trọng nhất là với sinh viên báo chí hay sư phạm.

Ngoài ra, một số phần mềm phát hiện lỗi sai cho văn bản trên máy tính cũng rất hữu ích, nó sẽ giúp phát hiện lỗi sai chính tả trong quá trình soạn thảo văn bản, giúp tiết kiệm thời gian và công sức. Việc đọc nhiều sách, báo cũng rất quan trọng. Điều này sẽ giúp con người bổ sung nhiều ngôn từ giúp cho vốn từ vựng phong phú, như vậy sẽ giúp khả năng phát hiện lỗi sai chính tả và sửa chúng sẽ nhạy bén hơn.

Ngôn ngữ người Việt luôn phong phú, giàu đẹp và đa dạng nhưng cách sử dụng đúng và hiệu quả để tránh xảy ra sai sót thì cần phải chú ý và sửa chữa nhiều. Nhưng nguyên nhân chính là ở bản thân mỗi người, chúng ta  cần phải cẩn thận và chú ý trong cách dùng từ của mình, để người đọc, người xem không bị hiểu nhầm ý mình diễn đạt, tránh tình trạng “Bút sa gà chết”.

Vũ Thị Tố Uyên
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

AI CẦN SỬA LỖI CHÍNH TẢ?


Trên diễn đàn truyền thông lâu nay đã có nhiều ý kiến bày tỏ sự quan tâm về vấn nạn “sai chính tả”, thậm chí có bài viết còn có “tít” cảnh báo tình trạng sai chính tả ở nước ta đã đến hồi “báo động”.

Qua thực tế công việc là một giảng viên hơn 30 năm đứng trên bục giảng, trong đó có phân nửa thời gian giảng dạy tiếng Việt ở trường sư phạm, chúng tôi muốn bày tỏ vài điều trăn trở.

Nói sai chính tả hay viết sai chính tả?

Trước hết, cần phân biệt rõ có hai loại phương tiện ngôn ngữ là ngôn ngữ nói/ tiếng nói và ngôn ngữ viết/ chữ viết. Nói không đúng so với tiếng chuẩn gọi là lỗi sai chính âm, viết không đúng so với từ/ tiếng chuẩn gọi là lỗi sai chính tả.

Chính tả là “cách/ phép viết đúng” theo quy tắc của một ngôn ngữ nhất định. Do đó, chỉ có thể nói: viết sai chính tả, chứ không có khái niệm nói sai chính tả.

Tiếng Việt là thứ tiếng ghi âm bằng công cụ chữ quốc ngữ, có đặc điểm cơ bản “nói sao viết vậy”. Từ đó, tình trạng nói sai dễ dẫn đến tình trạng viết sai.

Vậy mà, hiện nay, trên đất nước ta, tiếng nói ở cả ba vùng phương ngữ Bắc - Trung - Nam hầu hết đều có lỗi sai chính âm, trừ một số rất ít vùng phương ngữ được các nhà Việt ngữ học xác định là gần/ trùng với âm chuẩn hiện đại.

[Theo hai nhà Việt ngữ học, GS. Nguyễn Kim Thản và GS. Nguyễn Văn Tu, thổ ngữ xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, TP. Hải Phòng (thuộc phương ngữ Bắc Bộ) có thể xem là âm chuẩn của ngữ âm hiện đại nước ta.]

Mỗi vùng phương ngữ lại có những lỗi khác nhau, nên việc khắc phục không hề đơn giản. Trong lúc, nghề dạy học phải vận dụng đủ cả hai công cụ truyền đạt là nói và viết.

Ai có thể sai chính tả?

Không riêng gì giáo viên mà tất cả mọi người Việt Nam chúng ta đều có thể viết sai chính tả, nếu không thận trọng, cầu toàn khi sử dụng từ ngữ.

Tuy nhiên, giáo viên là đối tượng cần thận trọng nhất trong việc nói và viết cho đúng chính âm, chính tả, vì họ là đội ngũ truyền đạt kiến thức nói chung cho các thế hệ, trong đó có kiến thức, kỹ năng nói và viết đúng tiếng mẹ đẻ.

Trong các trường sư phạm hiện nay, đối tượng giáo sinh/ sinh viên lại đến từ nhiều vùng phương ngữ, thổ ngữ trên cả nước, cho nên lỗi chính âm, chính tả của họ cũng khá đa dạng, phong phú theo sắc thái vùng miền.

Hơn nữa, qua quan sát, chúng tôi cũng nhận thấy, hiện nay, theo xu hướng dịch chuyển địa bàn cư trú chung, nhiều giáo viên phía Bắc đang giảng dạy tại các tỉnh vùng Trung và Nam Bộ, chứ không có nhiều giáo viên phía Nam ra giảng dạy tại vùng phương ngữ Bắc Bộ.

Bên cạnh những lỗi chính tả mà học sinh cả nước đều có thể mắc phải, không phân biệt vùng miền, như các phụ âm đầu cùng ghi một âm nhưng có nhiều cách viết: d/gi, ng/ngh, g/gh, c/k/q... thì có nhiều lỗi chính âm/ chính tả theo vùng phương ngữ.

Nhưng một số giáo viên phương ngữ Bắc vẫn bê nguyên cách sửa lỗi chính tả cho học sinh phía Bắc vào áp dụng để sửa lỗi cho học sinh phía Nam.

Cụ thể chữa lỗi phát âm âm đầu [l/n] bằng cách dạy học sinh phân biệt “lờ cao - lờ thấp”, tương tự, phân biệt phụ âm đầu [s/x] bằng “xờ nặng - xờ nhẹ”, phụ âm đầu [tr/ch] bằng “chờ chó/ chờ trâu”, phụ âm đầu [r/d] bằng “rổ rá/ dạy dỗ”... Mà những lỗi chính tả này học sinh phía Nam hiếm khi phạm phải.

Trong lúc học sinh phía Nam hay phạm các lỗi chính tả phân biệt dấu thanh điệu hỏi/ ngã, phụ âm đầu [v/d], âm cuối [n/ng], [t/c]... thì lại ít được giáo viên chú tâm khắc phục.

Tất cả những điều bất cập trên góp phần làm cho việc sửa lỗi chính tả cho học sinh tuy đã được quan tâm tiến hành lâu nay, nhưng chưa đạt hiệu quả như mong muốn, dẫn đến hiện trạng “báo động sai chính tả” đến cả đội ngũ giáo viên.

Sửa lỗi chính tả thế nào?

Trở lại vấn đề phương ngữ, qua hàng ngàn đời nay, cư dân sinh ra và lớn lên ở địa phương nào, cố nhiên họ sẽ phát âm theo tiếng của địa phương đó, và đó chính là cơ sở để hình thành nên các vùng phương ngữ như hiện hữu.

Giả sử giáo viên, học sinh cùng gốc gác một vùng phương ngữ thì giao tiếp dạy – học giữa họ với nhau không gặp vấn đề gì ngoại trừ có những lỗi sai chính âm/ chính tả theo vùng phương ngữ đó.

Nhưng nếu người giáo viên ở vùng phương ngữ này lại đứng lớp với học sinh ở vùng phương ngữ khác thì họ lại gặp phải đến hai lần lỗi chính tả theo hai vùng phương ngữ: nơi sinh trưởng và nơi công tác.

Gần đây, tại các trường sư phạm, đặc biệt ở ngành Giáo dục tiểu học, giáo sinh đã và đang được học một học phần về chính tả là “Dạy chính tả phương ngữ” cho học sinh.

Mà cuốn tài liệu giáo khoa của TS. Võ Xuân Hào “Dạy học chính tả cho học sinh tiểu học theo vùng phương ngữ” là cuốn sách đáng tin cậy và có lẽ sẽ hữu ích không chỉ đối với giáo sinh, giáo viên mà cho tất cả chúng ta trong nỗ lực thoát khỏi tình trạng “báo động” sai chính tả hiện nay.

Để giảm thiểu sai chính tả

Trước hết, trên cơ sở nắm vững kiến thức về ngôn ngữ học đã được trang bị, giáo viên cần khắc phục lỗi chính âm/ chính tả theo vùng phương ngữ của chính bản thân mình bị ảnh hưởng từ vùng phương ngữ mà mình sinh trưởng.

Phấn đấu nói chuẩn chính âm, viết chuẩn chính tả trong mọi hoạt động dạy học như giảng bài, trao đổi với học sinh, ghi bảng, phê sổ đầu bài, soạn giáo án, phê bài làm học sinh...

Tiếp theo, giáo viên cần thấu hiểu đối tượng học sinh vùng mình đang giảng dạy, biết rõ các em đang tồn tại những lỗi chính âm/ chính tả nào phổ biến/ cá biệt để uốn nắn, điều chỉnh, rèn luyện cho các em thói quen nói - viết đúng chính âm - chính tả tiến đến hình thành kỹ năng nói đúng, viết đúng tiếng Việt mọi lúc mọi nơi.

Việc sửa lỗi chính tả cho giáo sinh nói riêng, và người đang công tác trong mọi ngành nghề cũng như học sinh các cấp nói chung mãi là chuyện “con gà - quả trứng” khi đề cập đến chuyện khởi sự.

Tuy nhiên, hãy bắt đầu từ giáo sinh ở trường sư phạm. Dù dạy môn gì, cấp học nào, người giáo viên, giáo sinh cũng cần thường trực tâm thế “sửa lỗi chính tả” cho chính bản thân mình.

Hơn thế nữa, tất cả mọi người Việt cũng cần chú trọng sửa lỗi chính tả vì người Việt phải nói và viết đúng tiếng nước nhà trong cố gắng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Đó không chỉ là biểu hiện của lòng tự trọng bản thân mình mà còn là biểu hiện sơ khởi nhất của tinh thần quý trọng tiếng mẹ đẻ giàu đẹp, của lòng yêu nước.

Đỗ Thành Dương
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

ĐÔI ĐIỀU VỀ CHÍNH TẢ


1.
Cứ như từ tên gọi thì “chính tả” là viết đúng. (Từ Hán Việt: Chính là đúng, tả là viết). Nhưng không phải cứ viết sai là phạm lỗi chính tả. Hôm vừa rồi, thấy có bạn đọc phàn nàn trang “oep” của một trường Quốc tế nọ mắc nhiều lỗi chính tả, vào xem thì thực ra, các bài viết chỉ mắc một số lỗi về câu cú. Đó là lỗi ngữ pháp, chứ không phải lỗi chính tả. Dip 30.4, thấy ở một cửa hàng bán xăng dầu có căng một cái băng đỏ, trên đó ghi “ngày giải phóng thủ đô”. Có nhiều bạn phàn nàn lỗi chính tả, nhưng thực ra đó hoàn toàn không phải. Đó là lỗi về sự hiểu biết.

Từ xưa, ngay từ chương trình Tiểu học đã có môn Chính tả. Đó là môn học rèn cho học sinh  cách ghi lại lời nói một cách đúng đắn, đúng quy tắc của cộng đồng (hoặc thể chế nhà nước). Các lỗi về câu, về diễn đạt, lập luận dù là viết sai nhưng hoàn toàn không phải phạm lỗi chính tả. Chuẩn mực của nó thường được ghi lại trong Từ điển hoặc Từ điển chính tả. Người viết sai cái chuẩn mực ấy bị coi là viết sai chính tả. Với nền giáo dục thực dân đế quốc xưa, người học hết Tiểu học đã không còn mắc các lỗi chính tả thông thường. Và những gia đình “có chữ nghĩa”, không thể thiếu một tủ sách, trong đó nhất thiết phải có một số cuốn Từ điển các loại để người trong gia đình sẵn sàng tra cứu khi cần thiết.

Thời phong kiến, nước ta sử dụng chữ Hán. Tiếng Việt đã có từ ngàn đời, nhưng để ghi âm tiếng Việt bằng các chữ cái la-tinh phải đợi đến thế kỷ 16, 17 nhờ sự giúp đỡ của các nhà truyền giáo phương Tây. Dù thế, mãi tới đầu thế kỷ 20, chữ Quốc ngữ mới dần được phổ biến. Cuốn “Đại Nam quốc âm tự vị” do Huỳnh Tịnh Của biên soạn rất công phu gồm 2 tập 1.210 trang được xuất bản lần đầu năm 1895 và 1896. Phong trào Đông Kinh nghĩa thục đầu thế kỷ đã có nhiều đóng góp trong việc phổ biến chữ Quốc ngữ, nhưng phải tới năm 1945, dưới chính thể Dân chủ cộng hoà, chữ Quốc ngữ mới trở thành chữ viết chính thức của nước ta. Vì thế, trong nửa đầu thế kỷ trước, số người sử dụng chữ Quốc ngữ chưa nhiều (theo thống kê, số người biết chữ chỉ khoảng 5% dân số), chưa có đủ những quy định chuẩn mực như sau này.

Việc viết đúng chính tả không hoàn toàn như những quy định hiện hành. Thay cho “d / gi”, nhiều người sử dụng chữ “z”; sự phân biệt hai chữ cái “c” và “k” cũng chưa thật rạch ròi. Điều này có thể thấy rõ trong nhiều bút tích của các tác giả thời này, trong đó có Hồ Chí Minh. Năm 1927, ông xuất bản cuốn sách “Đường kách mệnh” ở Quảng Châu với tên Nguyễn Ái Quốc. Việc sử dụng chữ “K” để ghi âm “cách” và dùng từ “cách mệnh” (thay bằng “cách mạng” hiện nay) được coi là rất bình thường, không ai coi là phạm lỗi chính tả. Rất tiếc trong lần xuất bản gần đây, tên cuốn sách đã được nhà xuất bản Sự thật rất “hỗn”, ghi thành “Đường cách mệnh” với lý do sửa lại cho đúng chính tả (nghe nói sau nhiều lần tốn không biết bao tiền bạc tổ chức hội thảo) là một việc làm đáng trách. Nó đã làm mất đi cái bối cảnh cuốn sách ra đời.

Lại nữa, nhiều người hiện nay để bài xích Hồ Chí Minh, thường dẫn ra việc ông sử dụng chữ “z” trong bản nháp “Di chúc” (trong các từ “nhân zân”, “zúp đỡ”, …) để gán cho ông nhiều lỗi đáng trách cũng là một việc mang tính chất “bới lông tìm vết”. Nên nhớ rằng, đây là bản nháp ông viết cho riêng mình và theo tập quán, trong những bản nháp này, người viết (bất kỳ ai) hoàn toàn có thể sử dụng cách viết tắt, cách dùng các ký hiệu, … nhằm mục đích viết cho nhanh. Khi viết những dòng này, chắc chắn ông Hồ Chí Minh không thể lường được chuyện về sau, người ta đã lợi dụng rất nhiều thứ của ông, thuộc về ông để nhằm đạt được mục đích cho nhóm lợi ích của mình. Tôi cho rằng, Hồ Chí Minh là người đã sử dụng  tiếng Việt một cách chuẩn mực đáng để những người yêu tiếng Việt noi theo.
2.
Chính tả là những quy định, nhiều khi có lý lẽ nhưng cũng không ít trường hợp hoàn toàn chỉ là những quy định. Thí dụ, các từ “suất” với nghĩa là phần như “năng suất’, “suất ăn”, “định suất” đều viết “s”; còn khi có nghĩa “ra” như “xuất khẩu”, “xuất hiện”, “xuất phát”, … đều được viết “x”. Các từ chỉ lời kể bằng miệng đều viết “ch” như “kể chuyện”, “nói chuyện”, “câu chuyện”, … còn lời kể được nhận biết qua chữ viết đều được viết “tr” như “truyện ngắn”, “đọc truyện”, “viết truyện”, … Người ta viết “chuyền” khi cái được “chuyền” là những vật cụ thể, có thể cầm, nắm, như “dây chuyền” (cả hai nghĩa, vật trang sức đeo ở cổ và cách làm việc để có năng suất cao), “chuyền bóng”, “chơi chuyền”, … còn khi cái được “truyền” trừu tượng thì viết “tr” như “tuyên truyền”, “truyền thanh”, “truyền tín hiệu”, …

Ngay trong Từ điển cũng có những trường hợp thừa nhận cả hai cách viết, như: Thánh Dóng/Thánh Gióng, nhộn nhịp/rộn rịp, rập rờn/dập dờn, thư dãn/ thư giãn, lầm lẫn/nhầm lẫn …

Nhưng cũng không ít trường hợp quy định chỉ là quy định, mọi người chỉ có một cách là chấp hành vô điều kiện. viết “sum họp” nhưng lại viết “xum xuê”,  “chảy xiết” nhưng lại viết “siết chặt”, …

Không ai dám khẳng định không bao giờ sai chính tả. Người mỗi vùng miền thường mắc các lỗi giống nhau. Vì bên cạnh được quy định bởi ngữ nghĩa, nhiều khi cách viết chỉ là những quy định, cho nên, chữ nào hay gặp thì không sai, còn chữ nào  ít khi sử dụng, hoặc chỉ sử dụng trong lời nói sẽ rất dễ nhầm lẫn. Mỗi người thường mắc những lỗi quen thuộc; ai hay đọc sách đồng thời cũng ít sai chính tả. Biết được nguyên nhân ấy thì việc sửa lỗi chính tả không có gì quá khó. Thời còn dạy học, khi chấm bài, gặp các lỗi chính tả của học sinh, tôi thường yêu cầu sau khi bài được trả, “đương sự” phải viết lại năm dòng từ ấy (từ chứ không phải tiếng, như “để dành”, “giành độc lập”, …), và sau đó có kiểm tra cẩn thận.  Chắc nhiều bạn trên FB hiện nay là “nạn nhân” có thể làm chứng. Sự “cứng rắn” này của tôi rất hiệu quả, chỉ cần một thời gian ngắn, những lỗi chính tả thường hay mắc ấy rất nhanh chóng được sửa chữa.

Người thận trọng, có lòng tự trọng trong chữ nghĩa  gặp khi có sự phân vân đều cần đến cuốn Từ điển (trong đó có Từ điển chính tả).

Viết đúng chính tả là dấu hiệu đầu tiên thể hiện trình độ sử dụng tiếng Việt (cũng như nhiều ngôn ngữ khác), nói rộng ra, nó bộc lộ trình độ học vấn. Trước đây, học sinh hết cấp Tiểu học đã được coi là “đọc thông viết thạo”, một trong những biểu hiện là không mắc những lỗi chính tả thông thường. Vũ Trọng Phụng mới học hết Tiểu học trường làng ở Hưng Yên (chắc chắn khi ấy chưa có những trường chất lượng cao hay trường đạt chuẩn quốc gia), sau khi cha mất, không có điều kiện đi học tiếp đã có thể đảm đương việc sửa “morat” cho nhà in (công việc mà ngày nay đòi hỏi người đảm nhận có bằng đại học mà hầu hết làm vẫn chưa nên thân), rồi từ đó, do được tiếp xúc với văn chương đã trở thành nhà văn nổi tiếng.
Nhưng vì sao ngày nay, nhiều bậc “mũ cao áo dài” trong văn hoá với những học hàm học vị đầy mình vẫn viết sai chính tả? Chung quy vì các vị ít đọc sách. Thời nhỏ, các vị học tắt, lên lớp nhờ phong trào thi đua; lớn lên, các vị làm quan tắt nhờ phong bì và khom lưng. Công trình nghiên cứu, tham luận hội thảo, … chủ yếu dùng kỹ thuật “cóp” (coppy) và “pết” (paste), …

Cho nên Bộ trưởng Bộ học nói còn sai chính tả (ngọng) thì nói gì đến viết.

Và trách gì đám học sinh, sinh viên, mấy anh làm biển quảng cáo cùng những người do cái nền giáo dục ấy nhào nặn.
Ông Giáo Làng
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 30 trang (296 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] ... ›Trang sau »Trang cuối