Trang trong tổng số 5 trang (42 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Phụng Hà

Giai thoại Tản Đà (1889–1939)


(Tiếp theo)

4/ Thơ khóc nhầm :

 Mai Lâm là một nhà giáo hay thơ. Ông dạy học ở Cao Bằng, thường đọc thơ Tản Đà và yêu thích cả thơ lẫn người. Ông vẫn ao ước có dịp được giáp mặt nhà thơ, nhưng vì đường sá xa xôi nên chưa có dịp. Năm 1934, bỗng An Nam tạp chí đình bản và Mai Lâm nghe đồn chủ báo (Tản Đà) đã chết. Ông hết sức thương tiếc và ân hận trong đời không còn gặp được nhà thơ nữa. Ông làm bài thơ "Viếng thi sĩ Tản Đà" như sau:

Ôi thôi, hỡi bác Tản Đà!
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời
Xa trông mây nước ngậm ngùi
Tấm lòng thương nhớ mấy lời viếng thăm
Nhớ ai vấn vít tơ tằm
Nước non ai kẻ đồng tâm hẹn hò
Thơ đầy túi, rượu lưng hồ
Dẫu cho kiết cũng danh nho nước nhà.
                 **
Ôi thôi, hỡi bác Tản Đà!
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời
Tôi với bác, bác với tôi
Tuy không quen biết cũng người đồng bang
Lại thêm cùng mối văn chương
Chung tình non nước, tơ vương bên lòng
Bấy lâu tôi những ước mong
Có phen run rủi tương phùng hai ta
                 **
Ôi thôi, hỡi bác Tản Đà!
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời
Làm chi vội mấy bác ơi
Chí cao nghiệp lớn ai người nối theo
Thuyền nan ai giữ mái chèo?
Con tàu bản quốc ai liều sóng khơi?
"Bức dư đồ" rách ai bồi?
"Báo An Nam" nghỉ ai rồi lại ra?
                  **
Ôi thôi, hỡi bác Tản Đà!
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời
Than ôi! còn đất còn trời
Còn non còn nước, đâu người nước non?
Đà dù cạn, Tản dù mòn
Danh thơm thi sĩ vẫn còn truyền lâu
Hồn thơ phảng phất nơi đâu
Chút tình có thấu cho nhau chăng là
Ôi thôi, hỡi bác Tản Đà!
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời...


 Bài thơ được gửi đăng trên tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy mà lúc bấy giờ Tản Đà đang cộng tác tại đó. Đọc được bài thơ của Mai Lâm khóc mình, Tản Đà thích thú lắm vì chẳng mấy khi được ở trong cái cảnh có kẻ tưởng mình đã chết mà chân thành khóc mình. Ông làm ngay bài thơ "Cười bác Mai Lâm" đáp lại như sau:

Nực cười cho bác Mai Lâm
Thương nhau chi sớm mà lầm khóc nhau!
Cõi đời đã lánh xa đâu
Mà cho ai nhớ, ai sầu, hỡi ai!
Tóc tơ vấn vít còn dài
Con tằm còn trả nợ đời chưa xong
Lửa hương còn chất bên lòng
Nho tàn còn vẫn trong vòng trăm năm.
                   **
Nực cười cho bác Mai Lâm
Thương nhau chi sớm mà lầm khóc nhau!
Suối vàng ai đã vội đâu
Mà cho ai tiếc, ai sầu, hỡi ai!
"Bức dư đồ" rách không bồi
"Báo An Nam" nghỉ biết đời nào ra
Hủ nho vô ích nước nhà
Rượu thơ còn vẫn la cà trăm năm.
                  **
Nực cười cho bác Mai Lâm
Thương nhau chi sớm mà lầm khóc nhau!
Hồn thơ đã mất đi đâu
Mà cho ai khóc, ai sầu, hỡi ai!
Dưới trên còn đất còn giời
Còn non còn nước, còn người nước non
Đà chưa cạn, Tản chưa mòn
Còn ai thi sĩ, lại còn tri âm...
Nực cười cho bác Mai Lâm
Thương nhau chi sớm mà lầm khóc nhau!


 Mai Lâm đọc bài thơ của Tản Đà vừa ngạc nhiên vừa bật cười; rồi tức tốc về ngay Hà Nội tìm gặp nhà thơ, để mời đi uống rượu mừng và tỏ tình thân thiết giữa người yêu thơ và nhà thơ.

5/ Tản Đà và Tú Mỡ :

  Tản Đà và Tú Mỡ cùng có tên Hiếu ( Tản Đà là Nguyễn Khắc Hiếu và Tú Mỡ là
Hồ Trọng Hiếu ), cùng ở trong văn giới, vẫn thường có văn thơ qua lại. Khoảng năm 1918, Tú Mỡ mới vào nghiệp văn thơ, ông mê thơ Tản Đà và Tế Xương, nên ảnh hưởng của Tản Đà đậm nét trong thơ Tú Mỡ.
 Khi Tản Đà chủ trương An Nam tạp chí, Tú Mỡ có làm bài thơ:

  Trời đày Nguyễn Khắc Hiếu:

Trong phòng sách cụ Trời
Cậu nhỏ dâng văn bôi
Sẩy tay đánh rơi vỡ
Nguyễn Khắc Hiếu ra đời

Từ khi Hiếu xuất thế
Vẫn nhớ cảnh thiên tiên
Bữa cơm thường phải rượu
Nhưng túi lại rỗng tiền

Liền xoay nghề văn chương
Viết bừa bán phố phường
Thơ chạy, tha hồ uống
Say khướt suốt đêm trường

Rượu ngon, nước mắm ngon
Giọng văn lại càng giòn
Khối tình con, tình lớn
Giấc mộng lớn, mộng con.

Thích chí nằm ngâm nga
Tiếng động vang Ngân Hà
Trời hỏi: "Ai ngâm thế?"
"Muôn tâu, ấy Tản Đà!"

Trời nổi trận lôi đình
Rằng: "Cái thằng tiên ranh
Ta đày xuống hạ giới
Cho hắn chịu nhục hình

Ai ngờ hắn vẫn nhàn
Ngày tháng ngâm thơ tràn
Các ngươi ai có cách
Bắt hắn phải gian nan

Chư tiên đồng thanh nói:
"Tội nặng nhất trần gian
Là bắt anh Khắc Hiếu
Làm chủ báo An Nam".


 Năm 1934, Tản Đà làm bài thơ gửi Tú Mỡ, đăng trên báo Phong Hoá:

 Gửi ông Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu

Tôi bác, sao mà bác tú ơi
Cùng tên, ta lại ở đôi nơi!
Khói mây non Tản tôi gầy lắm
Bơ sữa thành Long bác béo hoài
Cốt có rượu thơ người sống nổi
Quản chi mưa gió cuộc đời trôi
Thơ này Hiếu gửi đăng Phong Hoá
Hiếu có thanh nhàn thử hoạ chơi.

( Chưa sưu tầm được bài thơ hoạ của Tú Mỡ )

 Cuối năm 1936, Tản Đà ở Hà Nội, sống trong cảnh vô cùng khó khăn, phải mở lớp dạy Quốc văn hàm thụ, Hán văn diễn giảng, kiêm cả xem lý số Hà Lạc. Ông tự làm bài thơ kính cáo như sau:

Nguyễn Khắc Hiếu, Tản Đà!
Nay mai sắp ở Hà
Hà Lạc đoán lý số
Đàn ông và đàn bà
Ai gần xin đến hỏi
Thư gửi, người ở xa
Biên rõ năm cùng tháng
Ngày giờ nào đẻ ta
Một cữ ước tuần lễ
Có thư mời khách qua
Quyển số lấy đã rõ
Xin cứ nói thực thà
Hán văn âm quốc ngữ
Quốc văn bày nghĩa ra
Còn như tiền đặt quẻ
Nhiều năm, ít có ba (1)
Nhiều ít tuỳ ở khách
Hậu bạc kể chi mà!

 Kính cáo.


(1) Nhiều thì tiền quẻ 5 đồng, ít thì 3 đồng

 Tú Mỡ biết tin, làm thơ than thở cho bạn:

 Tản Đà cốc tử
(Gửi bác Hiếu, Tản Đà)

Nghe đồn bác Hiếu Tản Đà
Mở hàng lý số tỉnh Hà nay mai
Chừng bác thấy lắm ngài "Lốc Cốc"
Chỉ chuyên môn nói dóc ăn tiền
Tán hươu tán vượn huyên thiên
Nói thánh nói tướng như tiên như thần
Nghề bẻm mép kiếm ăn cũng dễ
Chẳng khổ như cái nghệ làm văn
Lao tâm trí, tổn tinh thần
Nhà thơ vắt óc tìm vần gọt câu
Lắm lúc bí, gan rầu ruột thắt
Thức thâu đêm mỏi mắt phờ râu!
Nhọc nhằn ai biết công đâu
Để cho thiên hạ giải sầu mua vui
Nghề thơ chẳng đủ nuôi thi sĩ
Nên bạn tôi phải nghĩ đường xoay
Nhà nho chữ tốt văn hay
Thời khoa lý số hẳn tay cũng tài
Vả xưa đã dùi mài Kinh Dịch
Báo An Nam chú thích tinh tường
Ngày nay đoán việc âm dương
Hẳn không bố phượu như phường ba hoa
Nào hãy đến Tản Đà Cốc tử
Quẻ càn khôn hỏi thử xem sao
Xem tài thầy thấp hay cao
Mười câu hoạ có câu nào sai chăng?
Dù thầy có tán trăng tán cuội
Nghe nhà thơ lời nói văn hoa
Nhất khi rượu đã khề khà
Tán đâu ra đấy đậm đà có duyên
Thời khách mất đồng tiền đặt quẻ
Cũng vui tai và sẽ vừa lòng
Nhưng xin thầy chớ "nói ngông"!


 Tản Đà trả lời Tú Mỡ bằng bài thơ sau đây:

Hoạ lại bài "Tản Đà cốc tử" của ông Hiếu, Tú Mỡ

Nghe ai bỉ báng Tản Đà
Báo chương lên tiếng tỉnh Hà mỉa mai
Ừ! Tớ vẫn học tài Quỉ Cốc
Nhưng chẳng hay nói dóc lấy tiền
Thiên lương chưa bén duyên thiên
Rượu thơ còn vẫn chén tiên câu thần
Cuộc trần thế kiếm ăn chẳng dễ
Rẻ rúng thay là nghệ làm văn!
Thâu đêm hao tổn tinh thần
Đèn xanh chiếc bóng xoay vần từng câu
Nào ai biết gan rầu ruột thắt
Thế mà sao mỏi mắt cùn râu
Nỗi niềm thực thế vì đâu?
Quá thương cất chén gượng sầu, làm vui
Đấng tạo hoá còn nuôi thi sĩ
Các thánh sư phải nghĩ đường xoay
Dẫu rằng lý số không hay
Chu Công, Khổng Tử ứng tay nên tài
Từ thủa nhỏ dùi mài Kinh Dịch
Báo An Nam nghĩa thích đã tường
Việc đời hai chữ "âm dương"
Tiếc thay mất giá tại phường ba hoa
Trời mới bảo Tản Đà tiểu tử
Vạch Kiền Khôn xét thử lại sao?
Trổ tài thần thánh tuyệt cao
Mà cho thiên hạ xem vào phải chăng
Mặc những kẻ tán trăng tán cuội
Xá chi ai lời nói ba hoa
Giang san đương lúc khề khà
Nghe thơ Tú Mỡ đậm đà có duyên
Riêng với bác miễn tiền đặt quẻ
Đoán thật hay bác sẽ ghê lòng
Tuổi già nay tớ không ngông!


6/ Tản Đà và báo Phong Hoá :

 Đầu năm 1932, khắp nước có cuộc bút chiến giữa thơ cũ và thơ mới. Hầu hết các cơ quan ngôn luận đều tham gia cuộc bút chiến này. Về phía thơ cũ có những tờ báo như An Nam tạp chí, Văn học tạp chí, Công luận, Tiếng dân, Văn học tuần san, … Những chiến sĩ nòng cốt của phong trào là Vân Bằng, Dương Tự Quán, Thường Sơn, Động Đình, Tùng Lâm, Tản Đà, Thái Phỉ, Đẫu Tiếp, … Về phía bênh vực thơ mới có các báo Phong Hoá, Phụ nữ tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo, Ngày Nay,… Những chiến sĩ nòng cốt của phong trào là Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Hoài Thanh, Phan Khôi, Việt Sinh, …

  Đầu tiên, Tản Đà gửi cho Phong Hoá bài thơ:

   Nhắn bảo Phong Hoá:

Mấy lời nhắn bảo anh Phong Hoá
Báo đến như anh thật láo quá
Từ tháng đến năm không ngớt mồm
Sang năm Quý Dậu (1) phải kiếm khoá
Ông Nỉnh ông Ninh có liệu mà
Tái tứ tái tam đừng trách nhá
Chút tình đồng nghiệp bảo cho nhau
Nhờ gió thổi đi mong cảm hoá.


(1) Quý Dậu: 1933

  Phong Hoá trả lời khá nặng với bài thơ :

Anh lên giọng rượu khuyên Phong Hoá
Sặc sụa hơi men khó ngửi quá
Đã dạy bao lần tai chẳng nghe
Hẳn còn nhiều phen mồm bị khoá
Thân mềm chưa chắc đứng ngay đâu
Luỡi ngắn thì nên co lại nhá
Phong Hoá mà không hoá nổi anh
Tuý nhân quả thật là nan hoá.


  Sự thực thì Phong Hoá không có ý mạt sát Tản Đà, mà họ nhấn vào chủ trương chung, tìm mục tiêu để tấn công vào thành trì thơ cũ, vì lúc bấy giờ, trên thi đàn,
Tản Đà được coi như tiêu biểu cho khuynh hướng thơ cũ.
  Cuộc bút chiến kéo dài đến năm 1936 thì dịu dần. Từ năm 1938, Tản Đà được coi như thánh sống của làng thơ. Phong Hoá và vài tờ báo khác chia nhau viết về
Tản Đà, ca tụng thơ Tản Đà :
- Văn Bình viết: Thi sĩ Tản Đà
- Xuân Diệu viết: Công của Tản Đà
- Lưu Trọng Lư viết: Bây giờ đây nắp quan tài đậy lại
- Trương Tửu viết: Sự thai nghén một thiên tài
- Nguyễn Triệu Luật viết: Ảnh hưởng Tản Đà đối với nhà văn lớp sau
….

6/ Tản Đà và việc dịch thơ Đường:

 Ngoài sáng tác văn thơ, Tản Đà còn tỏ ra đặc sắc trong việc dịch thơ Đường ra thơ lục bát và song thất lục bát, trong đó có bài Hoàng Hạc lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu, bài Trường hận ca tuyệt tác của Bạch Cư Dị, …
 Thực ra, dịch thơ Đường đối với ông lúc còn sống không chỉ là công việc nghệ thuật hay học thuật. Đây chủ yếu là kế sinh nhai của nhà thơ vào giai đoạn hai năm cùng cực cuối đời. Đó là thời kỳ ông mở ngôi hàng xem số tử vi Hà Lạc, không có khách. Mở lớp quốc văn hàm thụ và lớp Hán văn diễn giảng, cũng không có học trò. Rốt cùng đến thiếu tiền thuê nhà, chủ nhà đuổi và giữ lấy đồ đạc, …

  Với mấy câu thơ, thi sĩ Trần Huyền Trân đã phác hoạ cái gia cảnh bần bách ấy:


Hồn thơ về ẩn bụi hồng
Quyển vàng, tóc bạc nằm chung một lều
Có đàn con trẻ nheo nheo
Có dăm món nợ eo sèo bên tai
Chừng lâu rượu chẳng về chai
Nhện giăng giá bút một vài đường tơ
Nghiên son lớp lớp bụi mờ
Mọt ôn tờ lại từng tờ cổ thi.
….

(Trích bài thơ "Khi đã về chiều", làm sau lần vào thăm Tản Đà)

 Đó hẳn là những tờ cổ thi mà Tản Đà đem thi tài ra dịch để kiếm sống. Đằng sau
các câu chữ công phu, tài hoa, thú vị để lại cho hậu thế, còn có bao nhiêu mồ hôi và nước mắt, còn có niềm cay đắng của người thi sĩ lúc cuối đời cùng quẫn.
                                  ---------------------

  Viết theo:

1/ Giai thoại văn chương Việt Nam, Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch sưu tầm, biên soạn, Nxb Văn học, Hà Nội 1988
2/ Việt Nam thi nhân tiền chiến, , Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, Xuân Thu tái bản, 2000
3/ Việt Nam ca trù biên khảo, Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề,  Nxb TP HCM tái bản, Sài Gòn, 1990
4/ Thơ Đường, Tản Đà dịch, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn,  Nxb Trẻ, Hội
Nghiên cứu và Giảng dạy TP HCM, 1989
5/ Trang thơ Tú Mỡ trên Thi viện
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà


Giai thoại Đào Duy Từ (1572 – 1634)


 Đào Duy Từ người làng Hoa Trai huyện Ngọc Sơn, nay là huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá. Thân phụ là Đào Tá Hán.
 Lúc còn là học trò nghèo, gặp lúc Lê Mạc đánh nhau, Tá Hán đầu quân theo giúp vua Lê. Nhân lúc Trịnh Kiểm thống lĩnh quan quân vừa chiếm được Thanh Nghệ làm căn cứ vững chắc cho nhà Lê, Tá Hán cao hứng làm bài ca kể công họ Trịnh, có những câu như sau:

Trang quốc sĩ ai bằng Trịnh Kiểm,
Tỏ thần uy đánh chiếm hai châu.
Thẳng đường dong ruổi vó câu,
Phò Lê diệt Mạc trước sau một lòng…


 Viên Xuất đội đem bài ca ấy tố cáo Tá Hán đem tên huý của quận công đại tướng
ra hò hát. Tá Hán lo sợ vô cùng. Quan Trung quân nhận được giấy tố cáo, đòi Tá Hán vào hầu, thấy diện mạo khôi ngô, lại còn ít tuổi, nghĩ thương tình mới cho sửa lại hai câu đầu:

Trang quốc sĩ ai bằng họ Trịnh,
Tỏ thần uy bình định  hai châu.


 Dù vậy, Tá Hán vẫn bị phạt 20 roi và đuổi không cho làm lính. Không có kế sinh nhai, Tá Hán phải đi theo một gánh hát, sau mấy năm trở thành nghệ nhân hát chèo nổi tiếng.

  Đào Duy Từ rất thông minh, học giỏi, lại có tài thao lược, nhưng khi nạp đơn đi thi với nhà Lê, bị phát giác là con nhà hát xướng nên bị đuổi khỏi trường thi, đau buồn thành bệnh nặng, nằm mê mệt ở nhà trọ, không về làng được. Ngay lúc ấy, Đoan quận công Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hoá, phụng mệnh vua Lê Thế Tông và chúa Trịnh Tùng về Thanh Hoá bàn việc nước. Nguyễn Hoàng đến thăm quan Thái phó Nguyễn Hữu Liêu, Hữu Liêu đưa cho xem văn bài của Đào Duy Từ và kể việc bị đuổi (Nguyễn Hữu Liêu là chủ khảo kỳ thi đó). Nguyễn Hoàng xem văn biết Duy Từ có tài kinh bang tế thế. Nguyễn Hoàng vốn có chí hùng cứ một phương, liền đến tận nhà trọ giúp đỡ tiền bạc cho Duy Từ uống thuốc và có ý định mời vào nam giúp mình.
  Một hôm Duy Từ vừa khỏi bệnh, Nguyễn Hoàng đến chơi, nhân thấy trên vách có treo bức tranh ba anh em Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi dầm mưa dải tuyết vào Long Trung tìm Gia Cát Lượng; Nguyễn Hoàng và Duy Từ vịnh một bài thơ liên ngâm để bày tỏ chí mình.

 Nguyễn Hoàng đọc trước:

Vó ngựa sườn non đá chập chùng,
Cầu hiền lặn lội biết bao công.


Duy Từ tiếp:
 
Đem câu phò Hán ra dò ý,
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng.


Nguyễn Hoàng tiếp hai câu "thực":

Lảnh thổ đoán chia ba xứ sở,
Biên thùy vạch sẵn một dòng sông.


Duy Từ kết:
 
Ví chăng không có lời Nguyên Trực, (1)
Thì biết đâu mà đón Ngoạ Long. (2)


(1) Nguyên Trực: tức Từ Thứ
(2) Ngoạ Long: Gia Cát Lượng

Hai người hiểu ý nhau rất tương đắc. Nhưng Nguyễn Hoàng không dám đưa Duy Từ theo vào ngay, e tiết lộ cơ mưu, nên chỉ ân cần dặn:
- Lão phu về trước, xin đắp đài bài tướng chờ đợi tiên sinh. Năm nay lão phu hơn 70 tuổi, nếu có thất lộc, cũng để di ngôn lại cho con cháu sau nầy phải rước tiên sinh vào.
 Duy Từ bái tạ nhận lời mà từ biệt.

 Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hoá và mất năm 1613. Mãi đến khoảng năm 1625, Duy Từ mới tìm cách vào Nam với ý định giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên chống họ Trịnh. Nhưng gặp lúc chúa đi kinh lý nơi xa nên không gặp. Duy Từ hết tiền lưng, phải xin vào chăn trâu cho nhà phú hộ ở làng Tài Lương tỉnh Bình Định để đợi thời. Con trai phú hộ mở Tùng Châu thi xã, lấy Duy Từ làm người hầu hạ các bạn văn chương. Thỉnh thoảng ông làm gà cho những hội viên trong thi xã những bài thơ rất hay, dần dần đến tai quan Khám lý Trần Đức Hoà. Biết ông là bậc tài cao học rộng, Trần Đức Hoà mời Duy Từ về nhà dạy học và gả con gái cho.

  Trong thời kỳ ở Bình Định, Đào Duy Từ có làm bài "Ngoạ Long cương vãn",
tự ví mình với Gia Cát Lượng, nhưng chưa gặp thời:

  Ngọa Long cương vãn ( trích )

Cửa xe chầu trực sớm trưa
Thấy thiên Võ cử đời xưa luận rằng
An, nguy, trị, loạn, đạo hằng
Biết thời sự ấy ở chưng sĩ hiền
Hán từ tộ rắn vận thuyền
Ba phân chân vạc, bốn bên tranh hùng
Nhân tài tuy khắp đời dùng
Đua chen trường lợi áng công vội giành
Nào ai lấy đạo giữ mình
Kẻ đua với Nguỵ, người dành về Ngô
Nam Dương có kẻ ẩn nho
Khổng Minh là chữ, trượng phu khác loài
……….
Hưng vong bỉ thái có thì
Chớ đem thành bại mà suy anh hùng
Chốn này thiên hạ đời dùng
Ắt là cũng có Ngoạ Long ra đời
Chúa hay dùng đặng tôi tài
Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên.


   Sau đó, do Trần Đức Hoà tiến cử Đào Duy Từ và dâng bài "Ngọa Long cương vãn" lên chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Chúa xem khen là có chí lớn, sực nhớ lời
thân phụ căn dặn nên trọng dụng Duy Từ, phong cho chức Nha uý nội tán, tước Lộc Khê hầu.

 Năm Kỷ tị 1629, sau khi đuổi được nhà Mạc, Trịnh Tráng được vua Lê phong làm Thanh vương. Nhân đó, Trịnh Tráng muốn lấy danh nghĩa nhà Lê bắt chúa Sãi phải hàng phục.Chúa Trịnh sai sứ mang sắc phong Nguyễn Phúc Nguyên chức Thái phó quốc công, dụ chúa Nguyễn cho con ra chầu và nộp 30 thớt voi, 30 chiến thuyền.
  Chúa Sãi tiếp sứ, nhưng không muốn thụ phong, cũng không muốn tuân theo yêu sách của chúa Trịnh. Chúa bèn hỏi Đào Duy Từ cách đối phó.
  Duy Từ khuyên chúa cứ nhận sắc phong rồi sẽ có cách. Ông sai làm một cái mâm đồng có 2 đáy, để đạo sắc phong của vua Lê vào giữa 2 đáy, kèm theo một mảnh giấy viết một bài thơ. Chúa Nguyễn sai xếp lễ vật vào chiếc mâm và sai sứ là Văn Khuông mang ra Thăng Long tạ ơn vua Lê, chúa Trịnh.

 Chúa Trịnh chỉ thấy có lễ vật mà không có biểu tạ về việc được vinh phong, lấy làm nghi ngại lắm. Sau có người quan sát thấy cái mâm dày và nặng, mới khám phá ra là mâm có hai đáy. Tờ sắc và mảnh giấy được lấy ra dâng lên chúa. Chúa Trịnh thấy trên mảnh giấy có chép 4 câu thơ như sau:

矛而無腋
覔非見蹐
愛落心腸
力來相敵


Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm tràng
Lực lai tương địch.


  Chúa và quần thần không hiểu nghĩa làm sao, mới triệu quan Thái uý Phùng Khắc Khoan vào hỏi. Khắc Khoan ngẫm nghĩ một lúc rồi bẩm rằng đây là ẩn ngữ cho biết rằng họ Nguyễn ở Nam trấn chẳng chịu nhận sắc phong. Ông tiếp tục giảng giải:
"Câu thứ nhất: Chữ Mâu 矛 mà không có nét phẩy ở bên nách là chữ Dư 予
Câu thứ hai: Chữ Mịch 覔 mà bỏ chữ kiến 見 đi thì còn lại chữ Bất 不
Câu thứ ba: Chữ Ái 愛 mà rơi mất chữ Tâm 心 ở trong ruột là chữ Thụ 受
Câu thứ tư : Chữ Lực 力 đứng ngang với chữ Lai 來 là chữ Sắc 勑

 Cả 4 câu thơ ghép lại là 4 chữ 予 不 受 勑 : Dư bất thụ sắc, có nghĩa là 'Ta không nhận sắc mệnh'. Họ Nguyễn không chịu thần phục triều đình nên làm ra 4 câu thơ đó. Người soạn ra bài thơ phải là bậc hào kiệt của phương nam"

 Chúa Trịnh tức lắm, sai quan quân đuổi theo bắt sứ giả lại, nhưng Văn Khuông đã đi xa rồi. Chúa Trịnh muốn cất quân vào đánh, nhưng ở Cao Bằng và Hải Dương đương có quân nhà Mạc lại rục rịch chực đánh phá nên phải hoãn lại.

  Thực ra, giai thoại trên thiếu chính xác về mặt lịch sử,  vì lẽ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan mất năm 1613 và sự kiện chúa Nguyễn trả sắc xảy ra vào năm 1629.
Đó cũng là tình trạng của một số giai thoại văn chương khác.

 Sau khi đã biết rõ chính Đào Duy Từ là tác giả 4 câu thơ, Trịnh Tráng bực tức lắm, nhưng cũng rất phục tài Đào Duy Từ, nên đã sai kẻ tâm phúc đem nhiều vàng bạc và một bức mật thư vào thuyết Duy Từ, để hòng thu phục ông về làm quân sư cho mình. Xem xong thư, Duy Từ mỉm cười, trả lại số vàng bạc và lấy giấy bút viết một bài ca, dặn đưa về cho chúa Trịnh. Bài ca như sau:

Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu!
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra? …


  Trịnh Tráng nhận được bài thơ, biết Từ không đổi ý chí, nhưng vẫn kiên trì phái người vào dụ dỗ Từ một lần nữa. Từ thấy vậy, lại nhờ người gửi ra cho Trịnh Tráng hai câu thơ nữa:

Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa kẻo chồng em ghen!


 Dụ dỗ, mua chuộc mãi mà không được, Trịnh Tráng tức lắm; từ chỗ mến phục chuyển sang căm ghét Duy Từ. Chúa tôi  họ Trịnh đặt ra những bài hát như sau để đả kích ông:


Có ai về tới Đàng Trong,
Nhắn nhe "bố đỏ" liệu trông đường về. (1)
Mải tham lợi, bỏ quê quán tổ,
Đất nước người dù có cũng không …


(1) Nói "bố đỏ" cũng có ý ám chỉ rằng Duy Từ họ Đào

hoặc:

Rồng khoe vượt gió tung mây, (2)
Biết đâu rồng đất có ngày xác tan …


(2) Duy Từ là tác giả bài văn "Ngoạ Long cương vãn", tự ví mình với con rồng nằm, có ngày sẽ vượt gió tung mây.

  Duy Từ hay biết các câu hát ấy chỉ cười khảy và càng quyết tâm nghiên cứu kế hoạch phá Trịnh.

  Đào Duy Từ có công mặt ngoài thì chống đánh Trịnh, mặt trong mở đất
Chiêm Thành làm cho dân giàu nước mạnh. Về mặt nghệ thuật, ông sửa lại các lối hát và các điệu múa cổ, đặt ra các điệu múa Song quang, Nữ tướng quân, Tam quốc, Tây du,… dùng khi quốc gia đại lễ.
                                 ---------------------
  Viết theo:

1/ Giai thoại văn chương Việt Nam, Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch
   sưu tầm, biên soạn, Nxb Văn học, Hà Nội 1988
2/ Giai thoại làng nho, Lãng Nhân, Nam Chi tùng thư xuất bản, Sài Gòn,
   1966
3/ Việt Nam ca trù biên khảo,  Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, Nxb
   TPHCM tái bản, Sài Gòn, 1990
4/ Đào Duy Từ khảo biện , Lộc Xuyên Đặng Quí Địch, Nxb Thanh Hoá,
   1998
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà


Giai thoại Phạm Thái (1777 – 1813)


 Ông người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc; nay là phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Họ Phạm có tài làm thơ nôm và nổi tiếng về thơ tình yêu.
 Khi Tây Sơn dấy lên, cha là Thạch Trung hầu, vốn đã làm quan với nhà Lê, có dự vào công cuộc cần vương, nhưng bị thất bại. Phạm Thái sau trưởng thành, quyết nối chí, thường kết bạn với những bậc nghĩa sĩ để mưu đồ khôi phục nhà Lê.
 Phạm tài kiêm văn võ, thích uống rượu ngâm thơ, vì là con bậc đại thần nên được gọi là cậu Chiêu, lại hay say sưa túy lúy, mới có sước hiệu là Chiêu Lỳ. Chiêu Lỳ có bài thơ tự trào:

Có ai muốn biết tuổi tên gì,
Vừa chẵn hai mươi, gọi chú Lỳ.
Năm bảy bài thơ ngâm lếu láo,
Một vài câu kệ tụng a-ê!
Tranh vờn sơn thủy màu lem luốc,
Bầu giốc kiền khôn giọng bét be.
Miễn được ngày nào ngang dọc đã,
Sống thì nuôi lấy, chết chôn đi!


 "Một vài câu kệ tụng a-ê", là bởi bị truy nã gắt gao, ông phải cạo đầu, vào tu ở chùa Tiên Sơn (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) lấy đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sư, để khỏi lộ tung tích.

  Năm canh thân (1800) đến chơi nhà bạn ở kinh đô, nghe đọc bài Tụng Tây Hồ, ông hỏi ra là do Chương Lĩnh hầu Nguyễn Huy Lượng sáng tác. Lượng vốn là tôi nhà Lê, bấy giờ ra làm quan với Tây Sơn, viết bài tụng này cốt để tán dương công nghiệp vua Quang Trung. Phạm Thái nhân đó, cũng bày tỏ sự trung kiên của mình với nhà Lê, bèn họa lại một bài, đề là "Chiến Tụng Tây Hồ", lời văn phẫn nộ, trực tiết.

  Phạm nay đây mai đó, vẫn ngấm ngầm mưu việc cần vương. Một hôm, nhân phò giá hoàng phi Nguyễn Thị Kim lên Lạng Sơn để định sang Tàu theo vua Lê Chiêu Thống, Phạm gặp trấn thủ Trương Đăng Thụ, một đồng chí, cùng bạn tính toan việc giúp Trần Quang Diệu để trừ Võ Văn Dũng hòng gây khó cho Tây Sơn, chẳng may lộ chuyện; Dũng sai thủ hạ là Phan Đình Hồng, bấy giờ làm hiệp trấn Lạng Sơn, tìm cách bỏ thuốc độc vào nước trà, giết Thụ. Phạm Thái thế cô, chỉ còn biết đưa xác bạn về quê, làng Thanh Nê, huyện Yên Tĩnh, tỉnh Nam Định.

  Ở đây, Phạm gặp em gái Trương Đăng Thụ là Trương Quỳnh Như, một trang tài sắc kiêm toàn. Đôi bên dần dà thân nhau vì mối duyên văn tự, cùng nhau xướng họa rất là tương đắc.

 Phạm đã tả mối tình trong sạch của mình đối với Quỳnh Như bằng mấy bài thơ:

I
Từ chốn thiềm cung trộm giấu hương,
Dễ xui tao khách mối sầu vương.
Gió thông réo rắt rong đàn oán,
Trăng hạnh chênh vênh rạng bóng dương.
Nếu phải tình duyên may chút phận,
Thì xin ân ái vẹn hai đường.
Phong lưu đôi lứa ai đà dễ,
Bụi tục chi cho bợn lóa gương!

II
Dẩy hoa, dun lá, bởi tay trời
Nghĩ lại tình duyên luống ngậm ngùi.
Bắc yến, nam hồng, thư mấy bức
Đông đào, tây liễu, khách đôi nơi.
Lửa ân, rập mãi sao không tắt,
Biển ái, khơi hoài vẫn chẳng vơi.
Đèn nguyệt trong xanh, mây chẳng bợn,
Xin soi xét đến tấm lòng ai.


 Cha Quỳnh Như là Kiến Xuyên hầu Trương Đăng Quý rất mến Phạm, hai
người thường đàm đạo về thời thế và văn thơ.
  Một hôm, nhân hai người ngồi uống ruợu, hầu trông vào bức tranh tố nữ,
bảo Phạm thử uống mười chén rồi vịnh một bài thơ. Phạm vâng mệnh, cất bút thảo luôn một thiên Đường luật theo cách "thuận nghịch độc" (đọc xuôi là thơ chữ Hán, đọc ngược là thơ nôm diễn ý bài thơ chữ Hán). Thơ như sau :

 Bài đọc xuôi :

Thanh xuân toả liễu lãnh tiêu phòng,
Cẩm trục đình châm ngại điểm trang.
Thanh lãng độ liên phi phất lục,
Đạm hi tán cúc thái sơ hoàng.
Tình si dị tố liêm biên nguyệt
Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương.
Tranh khúc cưỡng khiêu sầu mỗi bạn,
Oanh ca nhất vĩnh các tiêu hương.

 
 Bài đọc ngược :

Hương tiêu gác vắng nhặt ca oanh (1),
Bợn mối sầu khêu gượng khúc tranh (2).
Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng,
Nguyệt bên rèm tỏ dễ si tình.
Vàng thưa thớt cúc tan hơi đạm,
Lục phất phơ sen đọ rạng thanh.
Trang điểm ngại chăm dừng trục gấm (3),
Phòng tiêu lạnh lẽo khoá xuân xanh. (4)


(1) Nhặt ca oanh: Tiếng chim oanh hót luôn luôn
(2) Sầu khêu: Nỗi buồn khêu gợi tấm lòng. Gượng khúc tranh: Gượng đánh khúc đàn tranh
(3) Dừng trục gấm: Dừng việc dệt gấm
(4) Khoá xuân xanh: Nhốt người con gái trẻ

 Hầu xem xong thích lắm, khen là “thanh quang thắng tuyệt” (trong sáng tuyệt vời).
 Mến tài văn thơ, lại cũng biết chí cần vương và hoạt động bí mật của Phạm, nên hầu mời Phạm ở lại ngay nhà, cho trút lốt nhà sư mà khoác áo nho sinh, để dạy mấy đứa cháu. Ông cụ tình cờ một đọc thấy thơ văn trữ tình của Phạm, có ý muốn gả Quỳnh Như cho, mới lựa lời khuyên Phạm về tìm họ hàng mai mối để xử sự cho phải lễ. Nhưng mẹ Quỳnh Như lại không ưng cho con lấy một “nhà sư phá giới”, vả lại tham phú quý, nhất định gả con cho một công tử nhà giàu nhưng học dốt.

 Quỳnh Như bị ép uổng, bực trí quyên sinh.

 Khi ở quê trở lại nhà họ Trương, Phạm hay tin dữ, liền ra mộ Quỳnh Như, thắp hương khóc lóc rồi đọc bài điếu văn như sau:

 Nương tử ơi! Chướng căn ấy bởi vì đâu? Oan thác ấy bởi vì đâu? Cho đến nỗi xuân tàn hoa nụ, thu lẩn trăng rằm!

 Lại có điều đau đớn thế nhỉ! Nhà huyên ví có năm có bảy, mà riêng mình nàng đeo phận bạc, thì lửa nguội nước vơi còn có lẽ. Thương hại thay! Hoa có một cành, tuyết có một quãng, nguyệt có một vầng, mây có một đóa: thân là thân hiếm hoi chừng ấy, nỡ nào lấy đôi mươi năm làm một kiếp, mà nghim nghỉm chốn non Bồng nước Nhược, chút gì không đoái đến cõi phù sinh!

 Ví dù mà tiên thù với tục, sao xưa kia vâng mệnh xuống trần chi? Nay đã nguyện một thân cho vẹn kiếp, thì ba vạn sáu ngàn ngày, sống cho đủ lệ: nọ xuân huyên, kia phu tử, góp với trần gian không chút hận, rồi sẽ rong chơi chín suối, cớ sao riêng bỗng vội vàng chi?

 Ôi! Chữ mệnh hẹp hòi, chữ duyên suông sẻ, những như thân giá ấy, tình cảnh ấy, ngược xuôi kia cũng ngậm ngùi cho. Huống ta cùng nương tử, tuy chẳng thân kia thích nọ, như tình duyên chừng ấy, cũng là một chút cương thường: dẫu rằng kẻ đấy người đây, song ân ái bấy lâu nay, đã biết bao nhiêu tâm sự!

 Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi thời nên nấn ná nhân duyên: mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa buông xuôi tính mệnh.

 Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm; chua xót cũng vì đâu?

 Nay qua nấm cỏ xanh, tưởng người phận bạc, sùi sụt hai hàng tình lệ, giải bầy một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài, tỏ cùng nương tử!


  Đọc xong, Phạm châm lửa đốt bài điếu văn, rồi đứng nghẹn ngào, nỗi lòng dào dạt phả lên một bài thơ nối:  

Trời xanh cao thẳm mấy từng khơi,
Nỡ để duyên ai luống thiệt thòi!
Buồn đốt lò vàng hương nhạt khói,
Sầu nâng chén ngọc rượu không hơi.
Lầu tây nguyệt gác mây lồng bóng,
Ải bắc hồng bay biển tuyệt vời.
Một mối chung tình tan mấy mảnh,
Suối vàng, ai nhắn hộ đôi lời!


  Từ đó Phạm sinh chán đời. Vì mải chuyện tình mà mấy năm rồi bỏ lửng cả việc cần vương. Vả lại thời vận nhà Lê đã hết, nhà Tây Sơn, rồi đến nhà Nguyễn kế tiếp nổi lên, việc cần vương không còn mấy ai nghĩ tới nữa. Phạm chỉ còn biết uống rượu ngâm thơ cho qua ngày tháng.
 Ông ngậm ngùi mãi về mối tình duyên lỡ dở:

Đưa lời cho tới cung mây,
Sầu này xin cởi cho đây với cùng !
Dây tơ hồng trách ai se mối,
Đến nửa chừng bỗng nới dần ra.
Căm vì một ả trăng già,
Trêu ngươi chỉ mãi chẳng tha, thế này…


 Và những khi cảm khái về thời thế, về thân phận, ông thốt ra lời thơ ngán ngẩm, khinh bạc, cáu kỉnh:

Năm bảy năm nay những loạn ly,
Cũng thì duyên phận, cũng thì "thì"!
Ba mươi tuổi lẻ là bao nả,
Năm sáu đời vua thấy chóng ghê!
Một tập thơ đầy ngâm sang sảng,
Vài nai rượu kếch ních tì tì.
Chết về tiên bụt cho xong kiếp,
Đù ỏa trần gian sống mãi chi!  


  Những lúc say sưa, ông lại lên giọng cao ngạo, ngâm một bài yết hậu:  

Sống ở nhân gian đánh chén nhè,
Chết về âm phủ cặp kè kè.
Diêm vương phán hỏi rằng chi đó?
                Be!

 
  Ông mất năm 37 tuổi.
                                 ---------------------
Viết theo:

1/ Giai thoại làng nho, Lãng Nhân, Nam Chi tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1966
2/ Giai thoại văn học Việt Nam, Kiều Thu Hoạch, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2010
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà

Giai thoại bà Phủ Ba Lưu Thị Hiên (1860 – ..)  


 Bà sinh khoảng năm 1860, người làng Phù Lưu phủ Mỹ Đức tỉnh Hà Đông. Vốn là một đào nương thanh sắc, có theo đòi bút nghiên, lại có tâm hồn khoáng đạt, nên bà hay ngâm vịnh, tài làm thơ rất mẫn tiệp. Sau mấy năm lưu lạc chốn giang hồ, bà làm lẽ thứ ba viên tri phủ Nguyễn Danh Kế nên bà thường được gọi là bà Phủ Ba, sinh được một trai một gái, người con trai chính là nhà thơ Tản Đà ( có sách lại ghi thân mẫu của Tản Đà là bà Nhữ Thị Nghiêm). Sau đó mấy năm, bà ly thân với ông Nguyễn Danh Kế, trở lại đời sống độc lập.
  Trong thời gian làm bà Phủ Ba, bà kết bạn tâm giao với bà Nhàn Khanh, em ruột
của hai ông Dương Khuê và Dương Lâm ở Vân Đình. Hai bà đều là tài nữ, tâm đầu ý hợp nên thường cùng nhau xướng họa tâm đắc. Sau khi đã ly thân, bà thường về Vân Đình chơi với bà Nhàn Khanh, nên cũng thường gặp Dương Khuê, lúc đó đã luống tuổi.
  Họ Dương vốn là một tài tử đa tình, không hiểu bỡn cợt gì bà, nên bà đã trách khéo:

Trách ông Nguyệt lão trêu ngươi,
Cho người đầu bạc gặp người tóc xanh!


 Và họ Dương đã trả lời rất phong nhã mà cũng rất tự phụ:

Trăm năm ai dễ bạc đầu,
Mười điều ai có được đâu cả mười.
Trách trăng sao khéo nực cười,
Hờn hoa, mà nỡ nặng lời thế ư?


 Thế rồi Dương Khuê đêm khuya ngồi buồn, đối ngọn đèn dầu, trước bàn cờ thế cuộc đấu sắp tàn, cao hứng ngâm hai câu thơ thống thiết:

Gặp nhau trót đã muộn rồi,
Cầm quân cờ, gõ cho ... rơi hoa đèn!


  Nhưng hoa đèn có rơi tủa xuống bởi tay cờ run rẩy nỗi hận tình, người đẹp đâu có biết cho, mà dù có biết chăng nữa thì tóc xanh đầu bạc xưa nay vẫn khó dệt nên thơ!

  Sau khi bà Nhàn Khanh kết hôn với tri huyện Trịnh Đình Kỳ, theo chồng lên ngồi huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, bà Phủ Ba gửi cho bạn bài thơ:

Mong mỏi tri âm

Đêm qua thơ thẩn chốn thư đường,
Mong mỏi tri âm chẳng thấy sang.
Sáu khắc mơ màng người hảo hữu,
Năm canh tơ tưởng chốn đình giang.
Trông trăng bát ngát thương người ngọc,
Thấy nước bâng khuâng nhớ bạn vàng.
Hai chữ tương tư khôn xiết kể,
Khối tình chi để một ai mang.


 Sau đó, lên Bất Bạt ở chơi với bạn ít lâu, khi về gửi lại bài thơ:

Ai lên Bất Bạt nhắn nhe cùng,
Nhắn hỏi rằng ai có nhớ không?
Nửa bước, xa xa bằng mấy dặm,
Một ngày, đằng đẵng ví ba đông.
Giọng thơ tri kỷ say còn mệt,
Chén rượu ân tình nhắp chửa xong!
Khắc khoải năm canh lòng luống những … (1)
Thơ tình mở mở lại phong phong.


(1) Dị bản: Thao thức hôm mai dằng dặc nhớ,

 Hai câu thực: Giọng thơ tri kỷ say còn mệt, Chén rượu ân tình nhắp chửa xong! nghe như có hàm cái ý cảm tình với quan huyện Trịnh, vì quan huyện cũng hay thơ thẩn ỡm ờ, nhưng có lẽ bà e thương tổn đến tình chị em nên ở chơi
chưa được bao lâu đã bỏ ra về.
 Được thơ, bà Nhàn Khanh chừng cũng thấu tình, nhưng lại vẫn muốn cùng bạn tri kỷ đôi thuyền một bến, nên vội cho người về đón bạn, với bốn câu thơ:

Những đọc thơ mà luống ngẫn ngơ,
Đang em, đang chị, bỗng đôi bờ!
Nhị Hà, hỏi nước bao giờ cạn,
Bến đợi sông chờ đã biết chưa?


 Nhưng bà Phủ Ba đã chán cái cảnh kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, nên nghĩ bụng mặc dầu đối với bà Nhàn Khanh sẽ không đến nỗi như thế, song tình bằng hữu vẫn có thể suy giảm, nên gửi lại bài thơ từ tạ:

Dẫu rằng sông Nhị có dài,
Mà tình dằng dặc bằng hai ba phần!
Kể từ tiếp được thơ thần,
Mười phần sầu não, chín phần nhẹ không!
Quản bao cách núi xa sông,
Lòng riêng riêng những ước mong đợi chờ!
Cò khi buồn vịnh nên thơ,
Lời thơ nghe cũng ngẩn ngơ từng lời.
Có khi mượn bút vẽ vời,
Tương tư lại vẽ ra người tư tương.
Có khi cờ nước chiến trường,
Mã xa lạc lối, biết đường đâu đâu.
Có khi nhắp chén tiêu sầu,
Bầu tiên dốc cạn, ra mầu chửa say!
Tình riêng nào có ai hay,
Muốn đem tâm sự giãi bày cùng trăng.
Trách ai dứt mối xích thằng,
Tràch ai giở rói cát đằng đưa duyên …
Trách ai ngăn cấm hồ sen,
Chẳng cho Tây tử tới miền Bồng lai!
Đêm đông bóng giãi cành mai,
Biết rằng ai có như ai, nhớ mình ...


  Từ đây, thấy rằng đi đến đâu cũng bị cái thanh sắc gây nên sóng gió trên tình trường, bà quyết tâm đóng cửa phòng thu, sống cuộc đời nhàn tản cho đến già, xa hẳn mùi tục lụy.
                                 ---------------------
    Viết theo:

1/ Giai thoại làng nho, Lãng Nhân, Nam Chi tùng thư xuất bản, Sài Gòn,
   1966
2/ Thành ngữ điển tích từ điển, Diên Hương, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp,
   1992
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà

Giai thoại Nguyễn Trãi (1380-1442)


 Nguyễn Trãi (阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), quê ở xã Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông là con của ông Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của Tư đồ Trần Nguyên Đán.
 Lúc còn ít tuổi Nguyễn Trãi đã tỏ ra rất ham học. Điều đó được thân phụ ông nói đến trong bài thơ "Gia viên lạc":

Cố viên loạn hậu hữu tiên lư,
Lục tuế nhi đồng phả ái thư.


(Sau loạn, trong vườn cũ còn mái nhà xưa,
Đứa trẻ sáu tuổi đã ham đọc sách.)

 Thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào Bắc thuộc lần 4, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách đô hộ của nhà Minh. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh.

 Ông từng đề xuất một diệu kế nhằm tuyên truyền thanh thế cho nghĩa quân Lam Sơn. Ông dùng nước cơm trộn mỡ viết vào nhiều lá cây tám chữ:
"Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" (黎利為君, 阮廌為臣)
nghĩa là "Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi", với ý đồ khiến đàn kiến ăn mỡ khoét thành chữ trên mặt lá, rồi lá theo dòng nước trôi đi các ngả như tin báo từ trên trời xuống. Tuy vậy, một số tướng lĩnh khác như Lê Sát, Phạm Vấn, Lê Thụ bất bình vì cho rằng Nguyễn Trãi quá cao ngạo và coi thường họ, những người đã chịu nhiều lao khổ từ khi cuộc khởi nghĩa còn trong trứng nước. Đinh Liệt hoà giải mâu thuẫn bằng cách đề nghị Nguyễn Trãi đổi lại thành:
"Lê Lợi vi quân, bách tính vi thần" (黎利為君, 百姓為 臣), nghĩa là "Lê Lợi làm vua, trăm họ làm tôi".
 Thế là tin Lam Sơn khởi nghĩa truyền đi khắp nơi, khiến cho mọi người hết sức tin tưởng vào tương lai của nghĩa quân.

 Kháng chiến thành công, ông thay Lê Lợi viết bài "Bình Ngô đại cáo" nổi tiếng.

 Ông là khai quốc công thần và là văn thần có uy tín ở thời đầu nhà Hậu Lê. Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông.

 Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Ông được coi là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá của Việt Nam.
 Ông để lại rất nhiều trước tác văn chương, cả bằng chữ Hán và chữ Nôm, bao gồm các lĩnh vực văn học, lịch sử, địa lý, luật pháp, lễ nghi ... song đã bị thất lạc sau vụ án Lệ Chi Viên. Các tác phẩm còn lại đến nay của ông, phần lớn được sưu tập và tập hợp trong bộ Ức Trai di tập của Dương Bá Cung, được khắc in vào năm 1868 đời nhà Nguyễn.

 Các tác phẩm chính khác:
Quân trung từ mệnh tập
Bình Ngô đại cáo
Lam Sơn thực lục
Vĩnh Lăng thần đạo bi
Dư địa chí
Băng Hồ di sự lục

 Quốc âm thi tập là tập thơ bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi, gồm 254 bài thơ, chia làm 4 mục.

1/ Thơ đùa ả bán chiếu :

Tương truyền một hôm Nguyễn Trãi dạo chơi bên Hồ Tây, trời đã sẩm tối, ông gặp người con gái đi bán chiếu, nhan sắc tuyệt trần, ông liền đọc bỡn bốn câu thơ quốc âm:

Ả ở đâu ta bán chiếu gon?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?
Xuân thu phỏng độ chừng bao tuổi?
Đã có chồng chưa, được mấy con?


 Cô gái bán chiếu ấy tên là Nguyễn Thị Lộ, vốn xuất thân là con nhà gia thế sau vì cửa nhà sa sút phải đi bán chiếu, nên văn chương chữ nghĩa cũng không phải xoàng, lại cũng rất giỏi thơ Nôm bèn đọc ngay một bài tứ tuyệt đáp lại:

Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon.
Cớ chi ông hỏi hết hay còn?
Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ,
Chồng còn chưa có, hỏi chi con!


 Nguyễn Trãi thấy Thị Lộ đã có nhan sắc lại thao văn từ, liền lấy nàng làm thiếp.
 Chẳng bao lâu, nàng lại được phong làm Lễ nghi nữ học sĩ trong triều và được Lê Thái Tông rất quý mến. Rồi cũng chính vì thế mà sau đó, gây nên tấn thảm kịch rất đáng thương tâm cho gia đình và họ hàng Nguyễn Trãi.
 Nguyên sau hồi Lê Thái Tổ mất, Nguyễn Trãi bị bọn gian thần gièm pha nên đã phải xin về nghỉ ở Côn Sơn. Nhưng chẳng được bao lâu, ông lại bị triệu ra làm quan. Một hôm, Lê Thái Tông đi duyệt binh ở xứ Hải Dương về, dọc đường nhà vua ngủ lại ở Lệ Chi Viên, thuộc huyện Gia Định đất Kinh Bắc (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Hôm đó, Thị Lộ cũng được triệu tới hầu hạ nhà vua ở nơi hành tại (cung vua nghỉ tạm ở dọc đường). Sớm hôm sau, vua mất một cách đột ngột. Bọn gian thần nhân đấy tìm cách hại Nguyễn Trãi. Chúng vu oan cho ông tội xúi giục Thị Lộ giết vua, rồi đem tru di cả ba họ nhà ông. Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu giải oan cho ông.

2/ Thơ ghen vẫn tình :

 Tương truyền, Nguyễn Thị Lộ chẳng những có nhan sắc mà thơ phú văn chương cũng tài giỏi. Nàng sở trường về thơ quốc âm và Đường luật, thường cùng xướng họa với Nguyễn Trãi hàng trăm bài rất tương đắc. Sau khi về làm thiếp Nguyễn Trãi được ít lâu, vua Lê Thái Tông nghe đồn Thị Lộ có tài văn chương, đã cho triệu nàng vào cung, giao cho giữ chức Lễ nghi nữ học sĩ để dạy phép tắc cho các cung nữ. Vì mến tài, mến sắc, nhà vua thường cùng Thị Lộ đàm đạo văn chương. Có khi lại giữ Thị Lộ ở lâu trong cung, tỏ ý quyến luyến không nỡ rời xa. Chuyện đó không tránh khỏi lời dị nghị trong quần thần cùng đám cung nữ.
 Rồi tiếng đồn cũng đến tai Nguyễn Trãi; ông vừa nhớ, vừa ghen, đã gửi Thị Lộ bài thơ, lấy chữ "tình" làm vận. Thơ như sau:

Thiên cao địa hậu tứ thời thanh,
Khả trách hà nhân đạo bất minh.
Kính diện tuy thanh trần dĩ nhiễm,
Đức tâm phương nhuệ dục tuỳ tranh.
Nhân thanh tằng hựu Chu vương đức,
Thệ chỉ tương đam Hán đế tình.
Hạnh đắc thiên nhân tương bán trợ,
Tất nhiên xã tắc cánh xuân sinh.


 Dịch thơ:

Trời cao đất rộng bốn mùa thanh,
Đáng trách cho ai đạo chẳng minh.
Mặt kính gương trong nhơ đã vấy,
Đức cao dù đẹp dục còn tranh.
Chu vương từng học lòng nhân đức,
Hán đế còn đam chuyện ái tình.
May được trời người cùng hiệp trợ,
Nước nhà ắt hẳn lại hồi sinh.


 Thị Lộ đọc thơ, biết Nguyễn Trãi có ý nghi ngờ mối quan hệ giữa nàng với nhà vua, nhất là câu “Kính diện tuy thanh trần dĩ nhiễm” (Mặt kính gương trong nhơ đã vấy) khiến nàng vô cùng đau lòng, nàng đã theo nguyên vận gửi cho Nguyễn Trãi bài thơ rằng:

Đan tâm khẩn khẩn sự do thành,
Thuỳ vị cương thường đạo bất minh.
Nhật hỏa hà ưu vân thốn điểm,
Mộc cù khởi phụ cát tuỳ tranh.
Anh hùng miễn đại anh hùng chí,
Nữ tử phi nhi nữ tử tình.
Phúc quyến thiên duyên cầm sắt hợp,
Nghiệm chư tôn tử thánh hiền sinh.


 Dịch thơ:

Lòng son khăn khắn việc mong thành,
Ai bảo cương thường đạo chẳng minh.
Ngày nắng sao lo mây chút gợn,
Cây cao há ngại sắn leo tranh.
Anh hùng gắng giữ anh hùng chí,
Phận gái đừng theo phận gái tình. (1)
Phúc luyến duyên trời cầm sắt hợp,
Nghiệm xem con cháu thánh hiền sinh.


(1) Cả câu nầy ý nói, tuy phận gái nhưng không theo thói nữ nhi thường tình.

 Thị Lộ đã khéo léo, mềm mỏng, giãi bày lòng mình với Nguyễn Trãi. Nàng vì lo hoàn thành công việc trong cung nên ít về nhà, chớ chẳng có gì mờ ám. Ý thơ cũng nói rõ, mình trong sáng thì ngại gì những lời dị nghị. Lại tôn vinh ông là cây cao, là bậc anh hùng. Mong hai người hòa hợp sắt cầm, để chung hưởng hạnh phúc dài lâu mà xem con hiền cháu thánh …
 Nguyễn Trãi xem thơ họa, chắc cũng đẹp ý, nên không trách móc gì Thị Lộ nữa. Rồi khi nhà vua ngự giá đến Lệ Chi Viên, ông cũng bằng lòng để nàng cùng thưởng ngoạn phong cảnh với đức vua. Đáng tiếc, chính tại Lệ Chi Viên, nhà vua đã mất một cách đột ngột, khiến cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đều bị tội chết. Song, dư luận đương thời đều cho rằng Nguyễn Trãi bị hại, phải chết oan, cũng chính là vì Thị Lộ gây nên.

 Có hai dư luận về việc này: Một là theo huyền tích dân gian, nói Thị Lộ chính là hóa thân của rắn, lấy ông cốt để báo oán, vì trước kia, ông sai học trò dọn cái gò để làm nhà học, đã xúc phạm đến một ổ rắn, làm con rắn mẹ bị thương. Để báo thù, sau khi vua chết, Thị Lộ đã khai là do Nguyễn Trãi xui nàng giết vua. – Hai là vì Thị Lộ có nhan sắc, để vua mê đắm, đêm ở Lệ Chi Viên, do nhà vua đã ngủ với nàng, nên bị cảm mà chết. Lỗi do vua, nhưng cũng có phần trách nhiệm của Thị Lộ.

  Viết theo:

1/ Giai thoại văn học Việt Nam, Kiều Thu Hoạch, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2010
2/ vi.wikipedia.org
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Thái Thanh Tâm

Vua bảo chết là phải chết, huống hồ vua bắt ngủ với mình. Trước thời Nguyễn Trãi rất xa, người ta đã biết biết đến bệnh đột tử do ngủ với đàn bà.Sự việc xẩy ra, tất cả những gì đáng trách đều ở Lê Thái Tông. Sao tác giả Kiều Thu Hoạch lại đổ có phần trách nhiệm của Thị Lộ ?
Trên đời này, chuyện gì cũng có thể xẩy ra-Thái Thanh Tâm
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà


Giai thoại một bài thơ của bà Cao Thị Ngọc Anh


 Bà Cao Thị Ngọc Anh sinh năm 1877 người làng Thịnh Mỹ phủ Diễn Châu tỉnh Nghệ An, ái nữ của Đông các đại học sĩ Cao Xuân Dục. Bà lấy chồng năm 19 tuổi, chồng là cử nhân Nguyễn Duy Nhiếp, người tỉnh Hà Đông, con Cần chánh Nguyễn Trọng Hiệp, sau làm quan đến chức Án sát.
  Hai họ Cao, Nguyễn đều là lệnh tộc nức tiếng về văn học và phầm cách. Bà được thân phụ rèn cặp bút nghiên từ tấm bé, lại sẵn có tài ngâm vịnh nên sớm nổi danh trong làng văn tự.
 Chồng mất sớm, lúc bà mới 26 tuổi, có ba con còn rất nhỏ, bà không tái giá mà ở vậy nuôi con, đem tâm sự gửi vào văn thơ.
   Nữ sĩ không những giỏi thơ nôm mà còn cả về thơ chữ Hán. Có người đã khen bài "Đào hoa khẩu chiếm" của bà không kém bài "Đề đô thành nam trang" của Thôi Hộ đời Đường.

 Một lần, nhân giở lại tập thơ của chồng, bà cảm tác bài thơ sau:

Vong phu thi thảo

U uất thu tâm khổ bất miên,
Phần hương ngũ dạ độc di biên.
Thi từ vô hạn lăng vân tứ,
Bút thái do lưu hãn mặc duyên.
Nguyệt lãnh ngâm lâu không tịch mịch,
Đăng thuỳ lạp lệ cộng lưu liên.
Nghị hồn hà xứ như tương thức,
Ưng bổ hoa thi "Biệt hận thiên".


 Bà tự dịch ra quốc âm:

Ấm ức lòng thu ngủ chẳng yên,
Đốt lò hương dậy đọc di biên.
Bao nhiêu lời hẹn tuôn mây gió,
Để chút duyên thừa dấu bút nghiên!
Trăng dọi lầu ngâm thêm lặng lẽ,
Đèn chong lệ sáp nhỏ liên miên.
Hồn thiêng đâu đó như cùng biết,
Thêm mấy vần thơ "Biệt hận thiên!"


 Bà goá chồng trong cảnh nửa chừng xuân, tài sắc vẹn toàn, nên nhiều nhà thơ trong giới quan trường không khỏi có ý lân la, thường dùng văn thơ buông lời trêu cợt. Bà tuyệt nhiên không trả lời ai cả.
 Một hôm, nhân nhà có giỗ, bà cho mời tất cả các vị ấy đến uống rượu. Sau đó bà mời lên cầu Hàm Rồng ngắm cảnh.
 Đến nơi, bà nói:
- Đứng trước danh sơn thắng cảnh này, dám xin các vị thi nhân mỗi vị cho một bài làm kỷ niệm.
 Một ông đáp:
- Xin vâng, chúng tôi đâu dám chối từ, vậy xin bà cho bài xướng trước, chúng tôi mỗi người sẽ  hoạ lại sau.
 Bà đọc rằng:

Hàm Rồng nô nức tiếng đồn om,
Rải rác nhà tranh ở mấy chòm.
Hỏi đá chờ ai ngồi nhấp nhổm,
Thương cầu vì nước đứng lom khom.
Sóng như chào khách chờn vờn nhảy,
Nguyệt cũng yêu ta lấp ló dòm.
Cửa động rêu phong mờ nét chữ,
Ai người mến cảnh chút trông nom.


  Ý tứ bài thơ rất tế nhị. Câu "Hỏi đá chờ ai ngồi nhấp nhổm" và "Sóng như chào khách chờn vờn nhảy" có ý trỏ vào các vị  thường gửi thơ văn đến trêu ghẹo bà. Câu "Thương cầu vì nước đứng lom khom" và "Cửa động rêu phong mờ nét chữ", bảy tỏ tâm sự mình, cảm thương số phận và quyết giữ tấm lòng thờ chồng.
 Nhất là cái vần "om" lắc léo, thật khó tìm ra câu, chữ thích hợp.
 Các vị thi bá tần ngần nghĩ không ra vần để hoạ lại, và cũng không dám trêu ghẹo trước thái độ đoan trang ấy, nên đứng chơi một lúc rồi xin lỗi chủ nhân, lẻ tẻ kéo nhau về. Từ đó không ai dám múa bút trêu bà nữa.  
                                 ---------------------
Viết theo:

Giai thoại làng nho, Lãng Nhân, Nam Chi tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1966
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà


Giai thoại Phùng Khắc Khoan


 Phùng Khắc Khoan 馮克寬 tên chữ là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai 毅齋, sinh năm 1528, mất năm 1613, quê ở làng Phùng Xá, tục gọi làng Bùng, huyện Thạch Thất (nay thuộc Hà Nội). Ông đỗ Hoàng giáp năm Quang Hưng 3 (1580) đời Lê Thế Tông, nhưng nhân dân vẫn quen gọi ông là Trạng Bùng theo lối tôn xưng của dân gian.
 Tuy Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn ông đến 38 tuổi, nhưng tương truyền, hai ông là anh em cùng mẹ khác cha.
 Thuở nhỏ, ông được cha rèn cặp, sau theo học Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nổi tiếng là người có văn tài, kiêm thông cả thuật số, nhưng ông không đi thi và không chịu ra làm quan với triều Mạc.
 Đầu đời vua Lê Trung Tông (ở ngôi: 1548-1556), ông theo Lê Bá Lỵ tham gia công cuộc phù Lê diệt
 Trạng Bùng là người thông minh, có tài ứng đối nhanh nhạy, sắc bén, đã để lại khá nhiều giai thoại thú vị, nhất là trong khi đi sứ nhà Minh.

1/Làm thơ nhanh trong một vụ kiện

   Bấy giờ ông vào khoảng năm hai mươi tuổi, nhà Mạc tuy đã nắm quyền bính trong tay, nhưng Trạng thì vẫn một lòng thần phục nhà Lê. Nghe tin con cháu nhà Lê trốn sang Lào, Trạng đã lặn lội theo tìm tới tận vùng Sầm Nưa. Dọc đường hết lương, Trạng phải đóng một thầy tướng số và địa lý để kiếm ăn.
  Một lần đến vùng nọ, ông mở lớp định gọi trẻ đến học, nhưng trong làng đã có một ông đồ dạy ở đây từ lâu. Nhiều bận, ông lắng nghe ông đồ láng giềng giảng sách thì thấy ông ta giảng nghĩa lung tung, sai sót rất nhiều. Thế mà người ta cứ cho con đến học rất đông, mới là lạ.
 Phùng Khắc Khoan bèn mua mật về nấu thành kẹo hình con chim con thú, hễ đứa nào đến học, ông đều thưởng kẹo. Ông lại dán ở chỗ học một bài thơ châm biếm :

Đô đô bình trượng ngã
Đệ tử mãn đường hạ
Úc úc hồ văn tai
Đệ tử bất kiến lai.
 

Nghĩa là:

Đô đô bình trượng ngã
Học trò đến chật nhà
Úc úc hồ văn tai
Học trò chẳng thấy ai.
 

 Mấy câu thơ chế giễu rất sâu cay. Chữ Hán có một số chữ mặt chữ nhìn qua tương tự giống nhau, người học không đến nơi đến chốn thường đọc lầm. Bởi thế tục ngữ mới có câu “Chữ tác đánh chữ tộ, chữ ngộ đánh chữ quá". Sách Luận ngữ có câu: 郁郁乎文哉 Úc úc hồ văn tai, nghĩa là văn vẻ rực rỡ thay.
 Nhưng về mặt chữ thì cả năm chữ này đều hơi giống mấy chữ: 都都平丈我 Đô đô bình trượng ngã, vốn không có nghĩa gì cả. Phùng Khắc Khoan có dụng ý chế giễu rằng: Thầy dốt đọc sách sai mặt chữ thì học trò đến học rất nhiều. Còn ông đọc đúng thì chẳng thấy đứa học trò nào đến.
  Bọn học trò nhỏ được thưởng kẹo lại được học với ông thầy giảng hay nên dần dần bỏ thầy đồ cũ, kéo đến học với thầy mới Phùng Khắc Khoan.
 Thầy đồ cũ tức lắm, làm đơn kiện lên quan huyện. Quan cho đòi cả hai người đến, bắt làm thơ để thử tài. Quan chỉ vào cái vỏ trai to dùng làm nghiên mực, bảo hai thầy đồ làm thơ vịnh. Đầu đề bài thơ là: Con Trai (chữ Hán là Bạng),  và cho làm thơ Nôm hay thơ Hán tuỳ ý.

 Phùng Khắc Khoan viết ngay một bài thơ thất ngôn bát cú chữ Hán như sau :

Hữu nhất giới lân phù thuỷ thượng,
Phi loa, phi cáp, kỳ danh bạng.
Tàng châu, đái giáp, võ văn tài,
Thổ vụ, thôn ba, hà hải lượng.
Ký đảo cuồng lan tận lực phù,
Tương thăng hồng nhật khuynh tâm hướng
Cửu châu tứ hải tổng tri danh,
Bỉ duật dung tài an cảm kháng?
 

Tạm dịch thơ:

Mặt nước lênh đênh vật có mai,
Chẳng sò, chẳng ốc, chính là “trai”.
Mù phun, sóng nuốt, biển sông lượng.
Giáp mặc, châu đeo, văn võ tài.
Gắng sức cản ngăn luồng sóng dữ,
Nghiêng lòng hướng đón ánh trời mai.
Chín châu bốn biển đều vang tiếng,
Tài mọn cò kia dám địch ai?
 

 Tương truyền, dân gian có bài dịch ra thơ lục bát như sau:

Trên sông nổi một vật gì
Không ốc không hến ắt thì là trai
Hạt châu ngậm áo giáp ngoài
Miệng phun sóng dữ nào ai sánh bì
Quản gì mưa gió thị uy
Hướng đông lòng vẫn kiên trì hôm mai
Bốn phương nổi tiếng anh tài
Cò kia cô thế chỉ hoài đứng trông.
 

 Còn thầy đồ già nghĩ mãi mới viết được bốn câu thơ chữ Nôm như sau:

Hùm hụp vừa bằng bàn tay doạng
Hỏi nó cái chi? Ấy cái bạng
Vỏ làm nghiên chép sử chép kinh
Ruột nấu cháo bổ tâm bổ tạng.
 

 Phùng Khắc Khoan nghĩ bụng thế nào mình cũng thắng cuộc. Nào ngờ quan huyện xem xong hai bài thơ, lại nhìn vào Phùng Khắc Khoan mà phán:
- Cụ đồ học đã bạc đầu mới có thể làm thầy, còn anh đang trẻ giành sao được địa vị của bậc già cả được?
 Rồi quan xử cho bọn học trò nhỏ về học với cụ đồ.

 Nghe xử xong, Phùng Khắc Khoan im lặng lần bậc thềm bước xuống sân. Quan huyện ngăn ông lại, nói:
- Xin ông hãy vào thư phòng, tôi có câu chuyện muốn nói.
 Rồi quan huyện bảo cụ đồ về, mời Phùng Khắc Khoan vào trong. Rượu được vài chén, quan huyện nhìn Khắc Khoan nói nhỏ:
- Tiên sinh có biết loài sư tử không? Nó vồ được cả con hùm con beo, nhưng khi vồ con thỏ mà cũng dốc sức thì nó dại. Tiên sinh có hoài bão lớn lao nên nghĩ đến việc lớn hơn, há cần giành giật bọn trẻ con với ông già tầm thường như vậy làm gì?
 Rượu tàn, quan huyện biếu ông mười lạng bạc và nói:
- Tôi mạo muội lấy chút tiền này thay lễ tết của học trò, mong giúp tiên sinh chút ít.
 Phùng Khắc Khoan rưng rưng cảm động. Ông biết trên đời còn nhiều tài giỏi và có tình. Ông tỉnh ngộ và sắp xếp hành trang, tìm đường vào Thanh Hóa giúp nhà Lê. Người quan huyện về sau cũng có công lớn trong buổi đầu dựng lại cơ nghiệp nhà Lê.

2/ Phùng Khắc Khoan và Liễu Hạnh công chúa

 Lúc Phùng Khắc Khoan đi sứ từ Trung quốc về đến Lạng Sơn ông thấy một cô gái xinh đẹp ngồi dưới ba cây thông trước sân chùa, vừa đàn vừa hát. Ông bèn lên tiếng ghẹo:

Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.
 

 Câu này có nghĩa là: ba cây che sân, một cô gái đẹp ngồi đó. Nhưng chơi chữ lắt léo: Tam mộc 三木 là ba chữ mộc, mà ba chữ mộc ghép lại thành chữ sâm  森 . Chữ hảo 好 là do chữ nữ 女 và chữ tử 子 ghép thành.
 Người con gái nghe vậy, đối ngay:

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.
 
 Câu này có nghĩa: núi non mở đường, người sứ giả đi đến là ông quan. Câu này chơi chữ ở chỗ: Trùng sơn là hai chữ sơn 山, hai chữ sơn ghép lại thành chữ xuất  出. Chữ sứ 使 là do chữ lại 吏 và chữ nhân 亻ghép thành.
 Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc vì sự đối đáp thông minh, mau lẹ của cô gái. Ông bèn nói tiếp:

- Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.
 
Câu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần ? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn 山 và chữ nhân 亻ghép lại thành chữ tiên  仙. Chữ bàng có bộ kỷ 几. Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm 凡.
 Cô gái không cần nghĩ ngợi, đáp ngay:

- Văn tử đới trường cân, tất thị học sinh thị trướng.
 
Câu này có nghĩa: ông nhà văn chít khăn dài, chính thị học sinh nhòm trướng. Câu đáp không những lịch sự, dí dỏm mà chơi chữ cũng hết sức tinh vi: chữ văn 文 và chữ tử 子 ghép lại thành chữ học 斈 . Dưới chữ đới 帯 có bộ cân 巾. Chữ trường 長 và chữ cân ghép lại thành chữ trướng 帳 .
 Phùng Khắc Khoan vô cùng khâm phục cô gái.Ông cúi đầu làm lễ, lúc ngẩng đầu thì cô gái đã lẩn mất. Chỉ thấy trên thân cây gỗ viết bốn chữ:

 Mão khẩu công chúa

kế bên đó, treo tấm biển cũng có bốn chữ:
 
 Băng mã dĩ tẩu.
 
 Những người đi cùng đoàn chẳng ai hiểu nghĩa hai câu đó như thế nào, hỏi Phùng Khắc Khoan. Ông từ từ đáp:
- Cây gỗ là bộ mộc. Mộc 木 thêm chữ mão 卯 là chữ liễu 柳. Mộc 木 thêm chữ khẩu 口 là chữ hạnh  杏, người con gái vừa rồi chính là Liễu Hạnh công chúa.
 Còn bộ băng đi với chữ mã 馬 , chính là họ Phùng 馮 của ta. Chữ dĩ 已 nằm cạnh chữ tẩu 走, chính là chữ khởi 起 . Có lẽ Liễu Hạnh công chúa dặn họ Phùng ta phải khởi công sửa lại ngôi chùa này.
 Sau đó,Phùng Khắc Khoan cho người tu sửa lại ngôi chùa khang trang. Trước chùa ông treo tấm hoành phi có bảy chữ:

 Tùng lâm tịch mịch phất nhân gia


 Mấy chữ này có nghĩa: Rừng thông vắng vẻ, không phải nhà người thường. Nhưng xem kỹ, câu này cũng chơi chữ tinh vi: chữ phất 弗 đi với chữ nhân 亻là chữ phật 佛. Phất nhân gia, tức Phật gia, nghĩa là nhà Phật vậy. Có lẽ ông muốn ghi lại một kỷ niệm đẹp đẽ trong lúc gặp gỡ lần đầu với Liễu Hạnh công chúa.

 Về kinh đô Thăng Long, một lần Phùng Khắc Khoan cùng hai bạn là Ngô và Lý đi chơi hồ Tây.
  Ba người tha thẩn đến một quán rượu bên hồ, ngoài cửa quán thấy đề bốn chữ lớn:

西湖風月

Tây hồ phong nguyệt


Có cô gái đẹp ra chào, nói:
- Đây là quán hàng mới của Liễu nương, xin các ông vào uống rượu, làm thơ tự nhiên.
 Ba người đi vào, thấy trong nhà có dán bài thơ tứ tuyệt, nét mực còn tươi:

 Điếm phương môn nội chiếu minh nguyệt
 Thời chính nhân bàng lập thổ khuê
 Khách hữu tâm tinh câu nguyệt đới
 Huệ nhiên nhất mộc lưỡng nhân đề.


Bài thơ có nghĩa:

 Cửa quán là đây trăng sáng soi
 Bên mành ai đứng đợi chờ ai
 Khách đến ba người thừa đội nguyệt
 Một cây huệ mọc giữa hai ngài.
 

 Phùng Khắc Khoan xem bài thơ, ngẫm nghĩ làm bộ không hiểu. Người bạn họ Lý nhanh nhẩu chiết tự:
- Đây là ý tác giả nói: Điếm phương nhàn tức “quán đương vắng”; Thời chính giai, tức “được buổi đẹp”; Khách hữu tâm, tức “khách có lòng”; Huệ nhiên lai, tức “mời vào chơi”.
 Phùng Khắc Khoan đưa mắt nhìn mặt nước hồ Tây mênh mông, lấp lánh, hồi tưởng lại cảnh gặp gỡ Công chúa Liễu Hạnh lần đầu ở Lạng Sơn năm nào…
 Ba người xúc cảnh muốn làm thơ. Bỗng người hầu gái thướt tha bưng đến một cái khay, trên khay có tấm thiếp viết câu thơ:

西湖別佔一壺天

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên


 Ba người hết sức ngạc nhiên,biết đây là câu mở của một bài thơ liên cú. Lý, Phùng, Ngô liền theo câu đó, mỗi người lần lượt làm hai câu một, thành bài thơ liên cú như sau:

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên
Túng mục kiền khôn tận khoát nhiên
Cổ thụ nhiễu trang thanh tịch mịch
Kim ngưu khoát thủy lục quyên quyên
Hoạt kê thủy giả nhất chinh thuyền
Cách trúc sơ ly văn khuyển phệ
Phanh trà bại bích thăng trù yên
Khinh khinh quế trạo thứ trung đãn
Đoản đoản xoa y thân thượng xuyên
Phảng phất Động Đình du Phạm Lãi
Y hy Bích Hán phiếm Trương Khiên
Thiên tầm hiệu đãng ám thâm thiên
Tử cố vi mang diệt hậu tiên
Ái nãi vãng lai hồng liễu bạn
Ầu a xuất nhập bạch tự biên
Sa trung hiệp hỷ vong cơ lộ
Văn ngoại nhàn khan xuất tính điên
Kỷ khúc thương ca văn thủy quốc
Nhất song bạch nhãn ngạo trận huyền
Giao đầu đối thoại y hà cải
Thân thủ tương chiếu hỷ khiếm tiên
Lạp phong thiên gian lăng thái nộn
Lâm trận sao đề dưỡng ngư tiên
Hoặc tương đạm tửu hoa tùng chước
Thời chẩm trường cao liễu ánh miên
Túy hận linh tinh phao thủy điện
Dục dư hiệu tiễu bộc phong tiền
Ân hoa mục tử thân bằng kết
Thượng uyển tiều phu cựu ước kiên
Bão tất tử ngô quan bạng thế
Phàm hâm tiều bị một tòng uyên
Võng sơ mỗi tạ thê đồ hiểm
Câu trục tu tương lợi nhĩ huyền
Hận chư hạ lai đồ ái nhật
Trường An đông tận vị tri niên
Tâm vong khẳng bả yên hà hoản
Ban điểm ninh đang lục tự khiên
Vị thủy nhậm phù ban bá bốc
Đào nguyên hảo phỏng vũ tặng duyên
Văn chung sự giác tâm vi Phật


 Lý, Phùng, Ngô làm đến đây, bỗng trong nhà có tiếng trong trẻo của chủ nhân họ Liễu ngâm :  

Đắc nguyệt ưng tri ngã thị liên


 Ba người không hẹn mà cũng vỗ tay khen ngợi câu kết. Nếu lấy câu mở đầu ghép với câu kết, hai câu thơ ấy sẽ là:

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên
Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên.


 Rõ ràng đây là hai câu thơ của một con người. Lời thơ, ý thơ, tâm tình nhà thơ đều rất nhất quán.

 Cả bài thơ liên cú trên,  đã được Phan Kế Bính dịch thơ như sau:

Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời
Bát ngát tư mùa rộng mất coi
Cỗi ngọc xanh xanh làng phía cạnh
Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ
Chèo gió ai bơi một chiếc chài
Giậu thủng chó đua đàn sủa tiếng
Trời hôm bếp thổi khói tuôn hơi
Mơn mơn tay lái con chèo quế
Xàn xạt mình đeo chiếc áo tơi
Thuyền Phạm phất phơ chơi bể rộng
Bè Trương thấp thoáng thả sông trời
Đò đưa bãi lác tai giòn giã
Giọng hát bờ lau tiếng thảnh thơi
Cò xuống đua qua vùng cát đậu
Diều bay sẽ liệng đám mây chơi
Khúc ca trong đục ầm bên nước
Quầng mắt xanh đen sạch bụi đời
Đầu gối long hà lai láng chuyện
Tay soi tiền giáp lả lơi cười
Chốc sen ngả nón chứa rau búp
Đáy nước dìm phao bắt cá tươi
Có lúc kề hoa bày tiệc rượu
Họa khi tựa bóng đứng đầu mui
Say rồi cởi áo quăng dông mắt
Tắm đoạn xoay quần hóng gió phơi
Trẻ mục Yên hoa bày tiệc rượu
Lũ tiều Thượng uyển hẹn lời dai
Bắt cò cứ vững ngồi rình bụi
Mò ngọc khen ai khéo lặn ngòi
Tay lưới thế thân không mắc vướng
Lưới câu danh lợi nhẹ tham mồi
Hạ rồi bến mát còn yêu nắng
Đông hết thành xuân chửa thấy mai
Thú cảnh yên hà sang dễ đọ
Sóng lòng trần tục dạ đầy vơi
Xe săn Vị Thủy thu hồ hải
Thuyền tới Đào Nguyên mặc sức bơi
Chuông sớm dục thanh lòng Phật đó
Trăng tròn soi bóng một tiên thôi.


  Bài thơ "Tây hồ quan ngư" ấy làm xong trong mùi rượu thoang thoảng thơm và mây nước Tây hồ bảng lảng.
  Ít lâu sau, Phùng , Lý và Ngô lại đến thăm quán nàng họ Liễu. Nhưng đến nơi thì quán cũ đã không còn. Trên cây nơi ấy, ve sầu kêu ra rả. Ba người nhìn thấy ở thân cây có bốn câu chữ triện :

Vân tác y thường phong tác xa
Tiên du Đâu suất mộ yên hà
Thế nhân dục thức ngô danh tính
Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh hoa.


  Lý và Ngô hỏi Phùng Khắc Khoan ý nghĩa bài thơ trên. Ông trầm ngâm một lúc, nói trong giọng buồn:
- Ba câu đầu của bài thơ thì các anh cũng đã rõ. Đó là : Lấy mây làm xiêm áo, lấy gió làm xe. Buổi sáng chơi vùng trời Đâu suất, chiều ngao du nơi mây khói. Người đời muốn biết tên họ ta. Ta là: “Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh hoa”. Chữ nhất 一 và chữ đại 大 là chữ thiên 天. Chữ sơn 山 và chữ nhân 亻là chữ tiên 仙. Cả câu thứ tư có nghĩa là: Ta là tinh hoa Ngọc Quỳnh của tiên trên trời.
  Nói xong, ông kể lại chuyện gặp bà Liễu Hạnh công chúa ở Lạng Sơn cho hai ông bạn Lý, Ngô nghe.
 Ba người lững thững ra về trong nỗi buồn nhớ mênh mông.

  Viết theo:

1/ Phùng Khắc Khoan. Cuộc đời và thơ văn, Trần Lê Sáng, Nxb Hà Nội, Hà Nội 1985
2/ Giai thoại văn học Việt Nam, Kiều Thu Hoạch, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2010
3/ vi.wikipedia.org
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Lại Gia

Mộng mộng uyên ương ảo ảo là
Chùa trước ba thông đàn hát ca
Tây Hồ uống rượu thơ liên cú
Động lòng trắc ẩn Ngọc Quỳnh hoa.
(BPD)
Nhất tự vi sư,bán tự vi sư
Tam môn diệc duệ,ai môn diệc duệ
(thiên,địa,nhân)
Nam Bang Nhất Lại.Tả Hữu Trung Thần.Nghĩa Khí Vạn Kiếp.Hiền Tài Muôn Đời
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà


Giai thoại vua Tự Đức (1829-1883)


  Hoàng đế Tự Đức (嗣德), húy Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任), còn có tên Nguyễn Phúc Thì (阮福蒔) là vị hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn.
 Là ông vua hay chữ nhất triều Nguyễn nên ông rất đề cao Nho học. Ông chăm lo việc khoa bảng, sửa sang việc thi cử và đặt ra Nhã Sĩ Khoa và Cát Sĩ Khoa để chọn lấy người có tài văn học ra làm quan.
 Ông là người ham học, hiểu biết nhiều và đặc biệt yêu thích thơ văn. Ông làm nhiều thơ bằng chữ Hán, trong đó có bộ Ngự chế Việt sử tổng vịnh, vịnh hàng trăm nhân vật trong lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, ông còn làm cả sách bằng chữ Nôm để dạy cho dân dễ hiểu, điển hình như Luận ngữ diễn ca, Thập điều, Tự học diễn ca, ...

  Có rất nhiều giai thoại văn chương về Tự Đức, nhất là những chuyện vua giao thiệp với các đình thần, các văn nhân đương thời.

1/Thơ nói lái

 Chuyện kể rằng, sau một buổi chầu, Tự Đức họp các quan để bàn luận chuyện cổ kim cùng ngâm vịnh thơ phú cho vui. Hôm ấy có một viên quan ở Hàn lâm viện, chức khá cao, đứng lên xin kể chuyện đức Thánh Trèm. Theo truyền thuyết, đức Thánh Trèm tên thật là Lý Ông Trọng, quê ở làng Trèm (nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội), có thân hình cao hơn hai trượng, có sức khoẻ phi thường, thi đỗ võ quan với nhà Tần (Trung quốc), có công đánh đuổi quân Hung Nô. Sau khi Ông Trọng trở về nước nam, vua Tần sai đúc tượng Ông Trọng đặt ở cửa Kim Mã, kinh đô Hàm Dương để quân Hung Nô khiếp oai không dám xâm phạm bờ cõi nước Tần nữa… Khi kể chuyện, viên quan muốn tỏ ra mình uyên bác, đã nói rằng sử sách Trung quốc và Đại Nam đều chép sai, phải gọi là Lý Trọng Ông mới đúng. Nhiều người có ý kiến bảo chính ông ta nói sai, nhưng ông ta không chịu cứ gân cổ cố cãi bừa, rằng từ nay phải gọi là Lý Trọng Ông.
 Tự Đức nghe hai bên tranh cãi ầm ĩ, thấy cũng tức cười, bèn ứng khẩu đọc ngay một bài thơ rằng:
 
Ông Trọng như hà hoán Trọng Ông,
Chỉ nhân học vấn thiểu phu công.
Tư nhân an đắc cư lâm hãn,
Nghi truất Nội Hà tác phán thông.
  

Có người dịch ra thơ nôm như sau:

Ông Trọng làm sao gọi Trọng Ông
Chỉ vì học vấn kém phu công
Người này không ở Lâm Hàn được
Đuổi quách ra Hà giữ phán thông.
 

 Ý chế giễu của bài thơ là ở chỗ câu nào cũng dùng những chữ nói lái như: Ông Trọng thành Trọng Ông, công phu thành phu công,   
hàn lâm thành lâm hàn, Hà Nội thành Nội Hà, thông phán thành phán thông.
 Các triều thần nghe những câu thơ nói lái hài hước của vua Tự Đức, ai nấy đều phì cười, còn viên quan Hàn lâm nọ thì thẹn quá, chỉ biết cúi đầu đỏ mặt mà thôi.

2/Thơ vịnh muỗi

 Tự Đức là ông vua hay làm thơ, đồng thời cũng là ông vua thích dùng thơ để vui đùa với các đình thần. Tương truyền một hôm, Tự Đức nổi hứng đọc cho các viên quan ở Hàn lâm viện chép một bài thơ như sau:
 
Tiêu hà tá hán khởi ư phong
Sấn nhập trùng vi nhiễu trướng trung
Bất luận huân tiêu phàn khoái lực
Hốt văn hàn tín tự tiêu không.
  

 Đây là bài thơ "Vịnh muỗi". Nhưng Tự Đức cố tình không đọc đầu đề, lại cố ý dùng toàn những chữ đồng âm với những chữ chỉ tên người, tên đất trong sử sách Trung quốc như: Tiêu Hà (thừa tướng nhà Hán), Hán (nhà Hán), Phong (đất Phong Bái nơi Hán Cao Tổ dấy binh), Phàn Khoái (tướng giỏi của Bái Công), Hàn Tín (đại nguyên soái của Bái Công). Mấy ông Hàn lâm vốn là “những con mọt sách”, làu thông sử sách, nên khi nghe vua đọc đến những tên lịch sử ấy thì đều cho ngay đó là bài thơ vịnh sử, rồi cứ cắm đầu cắm cổ mà viết chẳng cần suy nghĩ gì cả.
 Họ có ngờ đâu đã bị nhà vua cho một vố chơi khăm. Mãi đến khi Tự Đức xem bài của họ, vừa cười thích thú vừa chữa những chữ viết lầm của họ, thì họ mới biết đó chỉ là bài thơ “Vịnh muỗi”.
 Hóa ra chữ tiêu 蕉 là tàu lá chuối, chữ hà 荷 là lá sen; hai chữ này viết khác hẳn hai chữ Tiêu Hà là tên người. Chữ hán chỉ là chữ hãn là cái cánh, đọc chệch âm, viết cũng khác chữ Hán là nhà Hán. Chữ phong là gió, viết khác hẳn chữ Phong là tên đất. Còn hai chữ phàn khoái là hun đốt đều có bộ hỏa ở bên, mà viết cũng khác hai chữ Phàn Khoái là tên người. Hai chữ hàn tín là tin lạnh, chỉ trời trở rét; chữ hàn là lạnh rét viết khác hẳn chữ Hàn là họ Hàn, (chỉ có chữ tín là trùng với chữ Tín trong tên Hàn Tín). Như vậy, cả bài thơ theo đúng nghĩa phải dịch Nôm là:

Bẹ chuối đài sen cất cánh bay
Xông vào màn trướng quấy vo rầy
Chẳng cần hun đốt ra công sức
Tin lạnh đưa về tẩu tán ngay.
  

 Qua nội dung bài thơ "Vịnh muỗi", các vị hàn lâm viện cuối cùng cũng hiểu ra là nhà vua có ý chỉ trích họ chỉ là “những con mọt sách” mà thiếu hiểu biết đời sống thực tế của nhân dân. Không ngờ là các quan hàn lâm lại viết sai mấy chữ Hán thông thường, mọi người đều cảm thấy vừa thẹn vừa tức cười cho bản thân mình. Bấy giờ không chỉ có vua Tự Đức cười mà tất cả đều cười vang.

3/Bài vè của vua

  Tương truyền rằng:
Năm 1873, vua Tự Đức ngự thuyền ra cửa Thuận An. Vua đang ngắm cảnh biển. Bỗng có hai chiếc tàu ô của bọn cướp biển xông đến. Các thuyền hộ giá nhà vua sẵn sàng khí giới, súng ống đầy đủ, được vua ra lệnh cho bắn phá bọn tàu ô. Nhưng kết quả thuyền của triều đình thua to, bị chúng bắn lại nhiều người trọng thương. Chúng còn cướp được hai chiếc tải thuyền đem đi mất tích.
 Vua ngao ngán trở về. Ông chứng kiến rõ ràng tình trạng quan quân bạc nhược. Người ta chờ đợi một sự trừng phạt các quan lại. Nhưng nhà vua vẫn im lặng.
 Vài hôm sau bọn cung nhân, thị nữ và nội giám đều hát vang lên một bài vè tả cuộc thất bại ở Thuận An rất đầy đủ, cuối bài là những lời chỉ trích nặng nề các quan. Bài vè như sau:
 
Rằng năm Quí Dậu tháng tư
Ngửa vâng Hoàng thượng thánh từ sắc ban
Mười hai giá ngự Thuận An
Triều đình văn võ quân quan hộ tòng
Tưng bừng cờ phất trống rung
Chèo ba mái nhẹ thuyền rồng như bay
Càng nhìn càng đẹp càng say
Dẫu mà trăm cảnh không tày Thuận An
Ai ngờ một phút tự nhiên
Bỗng đâu chín chiếc tải thuyền chạy ra
Ngọn buồm trông thấy xa xa
Gần vời nghe tiếng súng ra đùng đùng
Tàu ô hai chiếc buồm giong
Đều buông tiếng súng gẫm cùng to gan
Trương buồm chạy dọc chạy ngang
Căm hờn mấy lũ mấy đoàn tàu ô
Tung hoành bố mạy, xí lô
Đứa đâm, đứa chém, đứa xô xuống tàu
Các quan khi ấy gửi tâu
“Ngửa trông Hoàng thượng lên lầu ngự ra”
Lệnh truyền: “Hộ vệ thần cơ
Ai mà bắn đặng tàu ô nó rày
Quyền ban lộc thưởng cao dày! "
Sắc vừa ban xuống nạp ngay súng liền
Bắn thời phát thẳng phát xiên
Bắn ra chẳng trúng vào thuyền tàu ô
Hở ra thì nó chạy vô
Bắt đi hai chiếc ai mô chẳng tường
Thấy thôi nửa giận nửa thương
Giận thay chúng nó, thương đường quân ta
Đứa thì bị thuốc cháy da
Đứa thời bị đạn máu ra đầm mình
Làm cho chúng nó dể khinh
Nghĩ lại phận mình chẳng biết cứu nhau
Phải chi diệu vợi nơi đâu
Đã toan lập lưỡng chước mầu tâu vô
Chẳng qua sự đã sờ sờ
Ai ai cũng lặng như tờ nín hơi
Nghĩ đời mà chán cho đời
Làm tôi ăn uống lộc trời lắm ru
Nghênh ngang võng võng dù dù
Bài vàng thêm mão xuân thu tháp đầu
Gẫm không tài cán chi đâu
Tham sanh úy tử một bè như nhau
Ăn thời giành trước giành sau
Đến khi có giặc rút đầu rút đuôi
Cũng xưng là đấng làm tôi
Cớ sao chẳng biết hổ ngươi trong mình!
 

  Các quan triều nghe hát đều sửng sốt, bàn tán. Song họ cũng mau chóng biết được đó là bài vè ngự chế (vua làm) mà nhà vua đã giấu tên theo kiểu dân gian. Ai cũng bảo nhà vua thâm thúy; cho dù có phạt tội các quan theo luật hình cũng không thấm thía bằng những lời phê phán sắc bén ở đoạn cuối bài vè. Do vậy các quan đều cảm thấy tủi hổ vô cùng.
 Rồi chẳng mấy lâu sau, bài vè cũng có cánh bay ra ngoài dân chúng. Mọi người đều cho là chuyện hi hữu xưa nay: vua mà cũng làm vè. Thế nhưng dân chúng cũng rất thú vị về cách trị tội các quan có một không hai này.

4/Thơ phong hoa tuyết nguyệt

 Tương truyền, có lần vua Tự Đức ra đầu đề cho các quan làm thơ. Nhà vua nêu quy tắc rất nghiệt ngã. Đầu đề muốn chọn thế nào cũng được, nhưng bài thơ phải có đủ tám câu. Tám chữ đầu của tám câu ấy bắt buộc phải là tám chữ: phong, hoa, tuyết, nguyệt, cầm, kỳ, thi, họa, đồng thời theo thứ tự từ câu đầu đến câu cuối, phải có tám chữ số là : nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát.  
 Đa số các quan, các văn nhân đều gác bút, hoặc chỉ viết được những bài có “phong, hoa, tuyết, nguyệt,…” mà lại thiếu “nhất, nhị, tam, tứ, …” hoặc ngược lại. Nhưng Hồng Bảo, anh ruột của Tự Đức lại làm thành một bài thơ vừa hay vừa đủ các điều kiện của đầu đề. Nội dung bài thơ như sau:
 
Vân đạm, phong khinh, nhất diệp châu
Hoa cù ẩn ước nhị tầng lâu
Tuyết ngưng địa thượng tam đông lãnh
Nguyệt đáo thiên trung tứ bích sầu
Cầm vận ngũ huyền ca nhã hứng
Kỳ vi lục cuộc thúc doanh thâu
Thi thành thất bộ chung hoài cổ
Họa nhập Tiêu Tương bát cảnh đồ.
 

 Nguyễn Đôn Như dịch thơ như sau:

Gió nhẹ mây êm một lá thuyền
Lầu hai lấp ló khóm hoa hiên
Ba đông tuyết phủ dồn hơi lạnh
Bốn vách trăng soi gởi nỗi phiền
Đàn gảy năm dây hòa giọng hát
Cờ vây sáu cuộc đổi thay phiên
Thơ xong bảy bước xui hoài cổ
Bút họa Tiêu Tương tám cảnh tiên!
 

 Thơ làm được như vậy là cực nhanh và giỏi. Tự Đức phải phục tài.
 Nhưng có người đã mách riêng với nhà vua rằng câu thơ thứ tư có dụng ý mỉa mai. Nói rằng "trăng lên giữa trời, gieo thảm sầu cho thiên hạ" là có ý ám chỉ Tự Đức không xứng đáng lên ngôi vua. Có lẽ Tự Đức cũng ngầm công nhận ý kiến ấy nên đã rất đề phòng ông anh mình. Người ta nói, sau này, Hồng Bảo làm đảo chính bị thất bại, phải tự tử, một phần là vì đã để lộ hình tích trong bài thơ nói trên.

 (Còn tiếp)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 5 trang (42 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối