Ngô Chi Lan còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ, tự là Quỳnh Hương, tên tục là Ngô Thị Hĩm; là một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam.
Bà (không rõ năm sinh, năm mất),người làng Phù Lỗ (tục gọi làng Sọ), huyện Kim Hoa (sau đổi là Kim Anh), trấn Kinh Bắc (nay là huyện Sóc Sơn, thuộc ngoại thành Hà Nội).
Tương truyền, Ngô Chi lan là cháu gái thứ phi Ngô Thị Ngọc Dao, người vợ thứ năm của vua Lê Thái Tông. Khi người cô này được tuyển vào cung, lúc ấy Ngô Chi Lan tuổi hãy còn nhỏ…
Phan Khắc Khoan (1916-1998) bút hiệu Chàng Chương, Hồng Chương; là nhà giáo, nhà viết kịch và là nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Ông cùng với Phạm Huy Thông, là hai người đầu tiên sáng tác ra thể loại kịch thơ ở Việt Nam, và đã có những vở diễn thành công trên sân khấu.
Ông sinh ngày 5 tháng 6 năm 1916 tại làng Yên lăng, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Mồ côi mẹ từ thuở bé, năm ông 15 tuổi, thì cha ông (Hàn Phu) bị mù. Do mẹ mất sớm, Phan Khắc Khoan phải đến ở với ông bà nội. Ông nội là một nhà…
Đỗ Huy Nhiệm (16/3/1915 - ?), bút danh Đỗ Phủ, Thiếu Lăng. Ông quê gốc ở Phú Yên, nhưng sinh ra ở Nam Định. Trước ông họ Hồ, sau đổi ra họ Đỗ. Thuở nhỏ, ông học ở Nam Định cho đến khi đỗ bằng Thành chung, rồi lên Hà Nội học tiếp cho đến khi thi đỗ Tú tài. Khoảng năm 1941, ông vào làm ở Sở Trước bạ Hà Nội. Tháng 10 năm 1941, ông được Hoài Thanh và Hoài Chân viết bài giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942). Ông có thơ đăng trên các báo thời bấy giờ, như: Phụ nữ thời đàm,…
Nguyễn Đình Thư sinh ngày 1 tháng 2 năm 1917 tại làng Phước Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên - Huế). Sinh trong một gia đình rất nghèo, ông được bà ngoại nuôi đến lớn, nên đặt tên là Thư, lấy theo tích đời xưa có ông Nguỵ Thư khôn lớn cũng nhờ bên ngoại. Thuở nhỏ, ông học trường Queignec, Quốc Học Huế. Sau khi thi đỗ bằng thành chung, ông đi làm thư ký Kho bạc, Huế.
Tháng 11 năm 1941, ông được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam…
Phan Thanh Phước (1916-1947), sinh tại Huế. Cha ông là Phan Thanh Kỷ (thuộc dòng dõi Phan Thanh Giản), làm Chưởng lý Toà Thượng thẩm Huế. Thuở nhỏ, Phan Thanh Phước học ở Quảng Trị, Faifo (Hội An) rồi đến Huế học trường Pellerin. Sau khi tốt nghiệp bằng Cao đẳng tiểu học, ông được bổ làm Thừa phái trong chính phủ Nam triều (nhà Nguyễn). Ông không những ông mê thơ mà còn sáng tác thơ. Thơ ông được đăng nhiều trên báo chí, và đến tháng 10 năm 1941, thì ông được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong…
Tương Phố tên thật là Đỗ Thị Đàm (1896[1] - 1973), là nhà thơ nữ Việt Nam, thuộc hế hệ văn học 1913-1932 [2]. Tên tuổi của Tương Phố gắn liền với phong trào “Nữ lưu và văn học”, và bà đã có những bài thơ được đánh giá cao như Tái tiếu sầu ngâm (thơ, 1930), Khúc thu hận (thơ, 1931)... và đứng đầu các tác phẩm đó phải kể đến Giọt lệ thu được viết năm 1923 [3].
Bà sinh tại đồn Đầm [4], tỉnh Bắc Giang; nhưng nguyên quán của bà ở xã Bối Khê, tổng Cẩm Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng…
Ngô Thế Lân 吳世鄰 tự Hoàn Phác 完璞, hiệu Ái Trúc Trai, là một dật sĩ xứ Thuận Hoá thời Lê mạt và Tây Sơn. Ông không rõ năm sinh năm mất [1], sinh khoảng năm 1725, phần lớn sống dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát.
Ông, người làng Vu Lai [2], huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong, nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Là người học rộng, giỏi thơ văn, tinh thông đạo học, có tinh thần yêu nước, muốn ra cứu đời; nhưng gặp lúc nước nhà lâm cảnh rối ren, đen tối, nên ông không đi thi, không ra…
"Hà thành thất thủ ca", chưa rõ tác giả[1], là một trong số ít bài thơ tiêu biểu trong thời kỳ thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ (Việt Nam) lần thứ hai (1882). Đây là một bài diễn ca lịch sử, dài 262 câu, thể song thất lục bát, ra đời ngay sau khi thành Hà Nội bị quân Pháp (do Trung tá Rivière cầm đầu) tiến đánh và thất thủ lần thứ hai (10 giờ 45 phút ngày 25 tháng 4 năm 1882). Cũng khoảng thời gian này, còn có ba bài khác cùng chủ đề, đó là: Hà Thành Chính…
Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889), hiệu Ngọc Đường, Hiến Đình, Lương Giang, nhân dân thường gọi ông là Nghè Ôn; là quan nhà Nguyễn và là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nghệ - Tĩnh (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ 19.
Ông sinh ngày 23 tháng Ba năm Ất Dậu (10 tháng 5 năm 1825) tại làng Quần Phương, xã Lương Điền, tổng Thái Xá, huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu), tỉnh Nghệ An.
Từ nhỏ, vốn thông minh ham học, nhưng vì ông sinh ra trong…