Cảm ơn em đã quan tâm.
Anh cũng chỉ biết sơ sơ thôi. Chủ yếu anh biết nghĩa Hán Việt chứ không biết nhiều về mặt chữ Hán.
Theo anh, làm văn, thơ về cơ bản vẫn là tầm chương trích cú. Nên phải đọc nhiều, đọc thêm các bài thơ chữ Hán, xem phần dịch nghĩa để xem người viết dùng từ ngữ thế nào rồi học theo. Bây giờ có thêm các công cụ dịch, giải nghĩa nên việc học ý nghĩa chữ Hán Việt cũng đỡ hơn. Đọc thêm cả trên từ điển Hán Việt của Thi viện - https://hvdic.thiviet.net nữa.
Còn lại thì cảm xúc vẫn…
Cảm ơn bạn đã quan tâm. Bản dịch của bạn hay quá
![[:X] :X](/image/emot_8.gif)
.
- Vế đối thứ nhất: TRI TÚC TRI CHỈ HƯỞNG PHÚC LỘC tức là Hãy biết đủ (tri túc), biết dừng (tri chỉ) để được hưởng những niềm vui và thành quả, của cải mà mình đạt được chứ đừng tham lam quá.
- Vế đối thứ hai: VI MINH VI CHÍNH ĐẮC AN NHÀN tức là Hãy giấu đi sự sáng suốt (vi minh) của mình, giấu đi tham vọng (chính – kế sách) của mình tức là giấu đi hoài bão của mình, đừng tỏ ra mình là tài giỏi, tham vọng hơn người thì sẽ được hưởng sự yên vui thảnh thơi.
- Về ý nghĩa: Hai câu…
Trong ảnh là bức “thư pháp” do tác giả viết tặng anh Trung hôm mùng 6 Tết, trong đó:
- Chính văn: DUYÊN
- Lạc khoản: Bài thơ trên.
- Thượng khoản: Kỷ Hợi xuân sơ lục nhật nhất nguyệt.
- Hạ khoản: Tân niên cung hạ Quang Trung huynh Vạn sự như ý, Thanh Tâm đệ kính thư.
Hai câu đầu trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt được trích từ bài thơ “Duyên gặp gỡ” của cụ Nguyễn Công Trứ, có nghĩa là:
Vua sáng và tể tướng tốt gặp nhau thì dễ còn người đàn ông tài giỏi mà gặp gỡ được người phụ nữ đẹp thì khó.
Ấy…
Bài thơ này được tác giả viết theo thể thơ “Kệ” (thường gặp trong các sáng tác thơ văn của Nhà Phật) lúc tác giả đang học lớp 9, sau khi học bài “CÁO TẬT THỊ CHÚNG” của cố Thiền sư Mãn Giác (1052-1096).
Dưới đây xin trân trọng giới thiệu bài Kệ “CÁO TẬT THỊ CHÚNG” của cố Thiền sư Mãn Giác:
Hán văn:
春去百花落
春到百花開
事逐眼前過
老從頭上來
莫謂春殘花落盡
庭前昨夜一枝梅.
Hán Việt:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa…
Câu cuối ý tứ sẽ đắt hơn nếu bạn thay ba chữ cuối thành “ta với ta”. Điều này vừa thể hiện sự tâm đắc của người thưởng trà với trà mình đang thưởng thức mà cũng vừa thể hiện sự suy tư, một mình của người thưởng thức trà (một mình thưởng trà ngon ngẫm sự đời - như câu thứ 3 đã thể hiện). Ngoài ra nó cũng làm cho bài thơ tứ tuyệt đúng luật thơ Đường hơn.
Chúc bạn vui vẻ.
- Vế đối thứ nhất: PHÚC TẠI TÂM, ĐỨC NHI HIẾU KÍNH PHỤ MẪU YÊN tức là Niềm vui, sự may mắn xuất phát ở lòng mình, người con có đức phải kính trọng, hiếu thảo với cha mẹ để làm yên lòng cha mẹ. Vế này được lấy ý từ câu của các cụ ngày xưa: “NHÂN SINH BÁCH HẠNH HIẾU VY TIÊN” tức là trong đời người có 100 việc tốt thì việc hiếu thảo với cha mẹ là việc đứng hàng đầu.
- Vế đối thứ hai: LỘC TỰ TRÍ, THÀNH NAM YẾU VY THIÊN HẠ KỲ tức là Công danh, tiền bạc từ trí tuệ của mình mà ra, người đàn…
- Vế đối thứ nhất: TÂM AN LẠC THỜI PHÚC LỘC VIÊN MÃN tức là Lòng có yên vui (AN LẠC) thì niềm vui, sự may mắn (PHÚC) và tiền bạc, công danh (LỘC) mới được tròn trịa (VIÊN MÃN). Điều này ý nói bình thường nếu trong lòng không yên vui thì Phúc Lộc vẫn có thể có nhưng không được tròn trịa.
- Vế đối thứ hai: TRÍ THIỆN ĐỨC TẤT CÔNG DANH LƯU QUANG tức là Nếu suy nghĩ (TRÍ) hướng về những điều tốt lành và làm được những điều tốt lành (THIỆN, ĐỨC) thì chắc chắn chức tước, tên tuổi của mình…