QUA HUYỆN QUÝ (- Gần huyện thành có giếng Lục Tục, cạnh giếng có cây quất quý. Trên núi Long Sơn có loại chè ngon, có suối Tử Tuyền (suối Tía) với dòng nước phun. - Tác giả nhắc đến sự tích cây cam đường (cây bàng): Đời Chu Vũ vương, Thiệu Bá là người biết lo cho dân, mỗi lần tuần thú phương nam thường ngồi nghỉ dưới gốc cam đường (bài “Cam đường” trong “Kinh Thi”). - Núi Thạch Chung có đá lạ, tương truyền khi gõ vào đá thì mưa to gió lớn sẽ đến ngay. Thời cổ, khi chưa có kim sắt, người ta châm cứu bằng kim đá (thạch châm). Trong bài, tác giả nhắc đến sự tích đá lạ này với nghĩa bóng là liệu có cải thiện được chính sự để lo cho dân không?)
Mấy tiếng sáo vẳng cất trên Hương giang Người phu thuyền cười chỉ tay về phía thành Uất Bình Chim kêu bên giếng Lục Tục, cây quất vừa nhú quả Núi Long Sơn khói mờ, ấm trà vừa mới pha Suối Tử Tuyền trải lụa, ngờ là có linh ứng Dưới bóng cây cam đường chỉ lo không có tình cảm với dân Nhà sư nói, đá núi Thạch Chung có thể gọi mưa to gió lớn Mùa viêm nhiệt thử lấy đá ấy làm kim châm chữa bệnh xem sao?
Vẳng nghe tiếng sáo Hương Giang Phu thuyền cười chỉ đường sang Uất Bình Chim kêu quất nhú quả xinh Đình Long mờ khói, hương quang ấm trà Suối Tuyền linh áo lụa là Cam Đường rủ bóng, lòng ta lo đời Gió mưa, núi Thạch gọi trời Đá kia mài thử cứu người xem sao.
Véo von tiếng sáo giữa sông Hương Cười nói phu thuyền đứng chỉ đường Quất nở chim ca bên Lục Tục Trà pha khói tỏa đỉnh Long Sơn Trên dòng suối Tía phun trào nước Dưới bóng cam đường nghĩ tới dân Đá núi Thạch Chung hô sấm chớp Liệu mài nhọn để được kim châm?
Đại loan đông bác thủy tình thâm Hoãn trạo tiêm ca khước đáo tầm Động hữu bích hư nghi cứu nhật Sản đa trữ bố quý thiên kim Nam hồ đình mộ du nhân khứ Bạch đảo tuyền hương vũ khách tầm Lang thạch du du sơn tại thử Vị thùy lương trạng túc cầm tâm
Ở vũng sông sâu dòng chảy chuyển về đông Vừa ca hát vừa khua chèo tiến vào sông Tầm Dương Trong động có khoảng lộ thiên là nơi tế thần mặt trời Huyện này sản xuất nhiều vải lụa quý ngàn vàng Chiều muộn du khách rời đình phía nam hồ trở về Bầy chim tìm về trên đảo cát trắng có dòng suối thơm Tảng đá lớn nhàn lặng kia chính đó là ngọn núi Không rõ vì ai, nó như cái phím ngựa giữ lại tâm tư của tiếng đàn
Vũng sâu dòng chảy về đông Tay chèo miệng hát bềnh bồng Tầm Dương Lụa tơ quý tựa ngàn vàng Khoảng không trong động có bàn thờ linh Chiều buông du khách rời đình Bầy chim về đảo chao mình suối thơm Lặng thầm đá dựng núi non Trông như phím ngựa ngưng tròn tiếng tơ
Dòng chảy sông sâu chuyển hướng đông Khua chèo ca hát đến Tầm Dương Khoảng không động núi bày đồ tế Vải lụa nơi đây sánh bạc vàng Khách chuyển đình nam chiều xế bóng Chim về đảo cát suối thơm dòng Đá kia như ngọn non im ắng Trông tựa phím đàn tỏ nỗi lòng
QUÁ QUẾ BÌNH HUYỆN NHÂN CHUNG DOÃN XUẤT PHIẾN CẦU THI, TOẠI ĐỀ
(- Trong bài tác giả có nhắc đến cụm từ “quân tu ký” (ông nên nhớ) là trích từ câu thơ “Nguyên Phong cựu sự quân tu ký” (Việc cũ năm Nguyên Phong ông nên nhớ) của Trần Nhân Tông. - Trác Lỗ, tức Trác Mậu và Lỗ Cung, người thời Đông Hán. - Chu Trình, tức Chu Hi, Chu Đôn Di và hai anh em Trình Hạo, Trình Di thời nhà Tống)
Phiếm phiếm ngôi tường đạt Quế Bình Chinh khâm đoan thính phượng hoàng minh Bích đàm nguyệt tiểu ngân thu hộ Độc tú tùng cao lục hạ đình Phu đức cập đồn tiên Trác Lỗ Đạo tâm như kính hậu Chu Trình Tử tuyền thụy ứng quân tu ký Tào bộ sa đê nhất phẩm vinh
QUA HUYỆN QUẾ BÌNH NHÂN HUYỆN DOÃN HỌ CHUNG ĐƯA CHIẾC QUẠT XIN THƠ BÈN ĐỀ NHƯ SAU
Nhè nhẹ dong buồm đi tới Quế Bình Sửa vạt áo nghiêm trang chờ nghe phượng hoàng gáy sáng Hồ xanh trăng nhỏ những ngôi nhà sáng bạc màu thu Tùng cao trơ trọi rợp sân xanh bóng như mùa hè Tài năng cẩn cán hơn cả Trác Lỗ Đạo đức gương sáng chỉ sau Chu Trình Suối Tía (Tử tuyền) điềm lành ông nên nhớ Sẽ sớm đi trên bờ đê với hàm nhất phẩm được vinh thăng
Thuyền nhẹ lâng lâng đến Quế Bình Chỉnh y, chờ phượng gáy bình minh Hồ im trăng mảnh nhà thu bạc Tùng vút sân đầy bóng hạ xanh tài cán copnf hơn hàng Tác, Lỗ Đức minh chỉ kém bậc Chu, Trìng Điềm lành suối tía ông nên nhớ Sớm dạo đê cao nhất phẩm vinh.