Trang trong tổng số 20 trang (193 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Diệp Sương

Biển nhớ đã viết:
http://i201.photobucket.com/albums/aa277/tranh_album/DaoPhongLan.jpg
Đào Phong Lan

Sinh ngày 25/03/1975 Tốt nghiệp Khóa 5 trường Viết Văn Nguyễn Du
Hội viên Hội Nhà Văn TP.HCM
Sống và làm việc tại TP.HCM
Email : daophonglan2003@yahoo.com
Website: http://daophonglan.vnweblogs.com

Các giải thưởng
•Giải ba Truyện ngắn Trẻ (Hội Nhà văn VN & Tuần báo Văn Nghệ Trẻ tổ chức), 1997
•Giải nhất, nhì, ba cuộc thi thơ Áo Trắng (NXB Trẻ) 1996,1997,1998,1999,2000,2001.
•Giải thưởng cuộc thi thơ “Bút Mới” (báo Tuổi Trẻ), 1995
•Giải thưởng thơ Tạp chí Phương Mai, Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định, 1995. •Giải thưởng “truyện ngắn Tạp chí Tiếp thị và Gia Đình”, 2005.

Tác phẩm đã xuất bản:           
Giêng Hai, tập thơ, NXB Thanh Niên, 1995
Ma Trận, Tập truyện ngắn, NXB Văn Nghệ TPHCM, 2001
---------------------------------

http://i201.photobucket.com/albums/aa277/tranh_album/DiepSuong-1.jpg
Diệp Sương.
Tên thật: Trương Thuỳ Giang.
Sinh ngày 27/06/1976.
Tốt nghiệp: Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ Hà nội năm 1998.
email: thuygiang76@yahoo.com
website: http://360.yahoo.com/thuygiang76
"văn chương chỉ là cuộc dạo chơi bên thềm cuộc sống bộn bề lo toan,trăn trở"
Đã in tập truyện ngắn "Tầm xuân nở muộn" năm 1998

http://360.yahoo.com/prof...c7PASMPG7hOR_qmqvw--?cq=1
http://thuygiang76.blogspot.com
Đàn bà cung con cua, giấu nỗi buồn sau đáy mắt
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hongha83

- Tào Phi (187-226,  nước Nguỵ)

Tiểu sử:
Tự là Tử Hoàn, là con thứ của Tào Tháo. Năm 211 giữ chức phó thừa tướng nhà Hán. Năm 217 làm thái tử nước Nguỵ. Năm 220, Tào Tháo chết, ông kế nghiệp giữ chức thừa tướng nhà Hán và là Nguỵ Vương. Không bao lâu ông phế bỏ vua Hán Hiến Đế (tháng 10/220), tự xưng là hoàng đế đầu tiên của nhà Nguỵ (với miếu hiệu là Nguỵ Thế Tổ Văn Hoàng Đế, nhưng thường được gọi tắt là Nguỵ Văn Đế). Tào Phi ở ngôi 6 năm (220-226), sau khi mất được chôn ở Thủ Lăng (hưởng dương 39 tuổi). Trong thời gian 6 năm ở ngôi, Nguỵ Văn Đế Tào Phi chỉ sử dụng một niên hiệu, đó là Hoàng Sơ (220-226).

Tào Phi là người khá yêu văn chương và bản thân ông cũng là một nhà thơ và nhà lý luận văn học có tiếng dưới thời Kiến An. Trong thơ ca Tào Phi xuất sắc hơn cả là những bài tả tình yêu nam nữ và nỗi sầu khổ li biệt như những bài Tạp thi, Vu Thanh Hà kiến văn thuyền sĩ tân hôn dữ thê biệt, Yên ca hành v.v... đều miêu tả tình cảm bịn rịn, lưu luyến của kẻ ở người đi khá sinh động, chân thực. Trong số đó nổi tiếng nhất là bài Yên ca hành. Tuy nhiên, diện đời sống trong thơ ca của Tào Phi phản ánh khá hẹp (do dựa vào tập đoàn địa chủ quan liêu đại quý tộc, ít quan tâm đến nỗi khổ của nhân dân, nếu có cũng chỉ là chút cảm thương bùi ngùi), phong cách nghệ thuật từ đó cũng không tránh khỏi yếu ớt. Do vậy, thành tựu và giá trị thơ ca không thể sánh bằng Tào Tử Kiến (192-232), em ruột của ông, cũng là một nhà thơ và là người được ca tụng nhiều nhất trong nhóm Tam Tào.

Về văn, Tào Phi còn để lại không nhiều, nổi tiếng nhất là bộ Điển luận, đã có tác dụng đặt nền móng cho lịch sử phê bình văn học Trung Quốc. Luận điểm của Tào Phi về đặc trưng thể loại và  tính cách của nhà văn được các nhà phê bình về sau kế thừa và phát triển. Đáng tiếc rằng, tác phẩm phê bình văn học này đã bị thất lạc, ngày nay chỉ còn lại một số chương,(hai thiên Tự tự và Luận văn).


hongha gửi
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hongha83

Pavel Antokolsky (1/7/1896 – 9/10/1978)

Tiểu sử:
Pavel Antokolsky sinh ở Sankt-Peterburg trong gia đình một luật sư. Từ bé đã rất say mê hội họa và đã trình bày một số cuốn sách của mình. Năm 1904 cả gia đình chuyển về Moskva, Pavel Antokolsky học ở trường gymnazy và sau đó học luật ở Đại học Moskva nhưng không tốt nghiệp. Từ năm 1915 làm việc ở nhà hát, năm 1930 trở thành đạo diễn nhà hát và bắt đầu làm thơ. Năm 1920 làm quen với nhà thơ Valery Bryusov và in một số bài thơ ở hợp tuyển Художественное слово. Năm 1922 xuất bản tập thơ đầu tiкn Стихотворения. Những năm 1923 – 1928 фng đi thăm cбc nước Phap, Đức, Thụy Điển vа co y định thаnh lập “nhа hat thi sĩ”. Cuối những năm 1930 фng dịch nhiều nhа thơ Phap, Gruzia, Ukraina, Azerbaizan, Armenia ra tiếng Nga. Pavel Antokolsky được đánh giá là có nhiều bản dịch thơ thành công và có những đóng góp quan trong cho trường phái thơ dịch của Liên Xô.

Những năm Thế chiến II ông làm phóng viên chiến trường. Năm 1942 đứa con trai duy nhất của ông hy sinh ngoài mặt trận, ông viết trường ca Сын (Con trai) được tặng Giải thưởng Stalin năm 1943. Ngoаi sбng tбc thơ, ong con viết nhiều tập sбch về những nhвn vật lịch sử cũng như những danh nhan văn hoa của thế giới. Năm 1960 ong viết tập sach Сила Вьетнама (Sức mạnh của Việt Nam). Pavel Antokolsky trở thành tác gia cổ điển của văn học Nga thế kỷ XX. Ông mất ở Moskva năm 1978.

Tác phẩm:
*1943 Поэма "Сын" (Сталинская премия, 1946)
*1954 Поэма "В переулке за Арбатом"
*1958 Cборник стихов "Мастерская"
*1960 Cборник "Сила Вьетнама. Путевой журнал"
*1962 Cборник "Высокое напряжение"
*1964 Cборник "Четвёртое измерение"
*1969 Cборник "О Пушкине"
*Cборник статей "Пути поэтов" (1965)

Nguyễn Viết Thắng (b/s)
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hongha83

Aleksey Nikolayevich Apukhtin (15 tháng 11 năm 1840 – 17 tháng 8 năm 1893)


Tiểu sử:
Aleksey Apukhtin sinh ở Bolkhov, tỉnh Orlov trong một gia đình quí tộc lâu đời có nguồn gốc từ Pháp. Tuổi thơ sống ở làng quê. Những năm 1852 – 1859 học trường Cao đẳng Luật Sankt-Peterburg kết bạn với Pyotr Ilyich Tchaikovsky (người sau này là một nhạc sĩ nổi tiếng của Nga và thế giới). Tchaikovsky từng sống một năm trong nhà của Aptukhin, hai người cùng đi với nhau du lịch ra nước ngoài, còn khi trở về Aptukhin sống ở nhà của Tchaikovsky. Tình bạn của Aleksey Apukhtin và Pyotr Ilyich Tchaikovsky được người đời coi là tình cảm của những người đồng tính luyến ái, giống như Arthur Rimbaud và Paul Verlaine. Thời gian học ở trường Luật, Aleksey Apukhtin là một học sinh xuất sắc, học giỏi tất cả các môn, đồng thời là biên tập tờ tạp chí của trường. Sau khi tốt nghiệp Aleksey Apukhtin làm việc ở Bộ tư pháp cùng với Tchaikovsky, hai người không mấy mặn mà với công việc mà chỉ yêu “thời tuổi trẻ vàng son”. Những năm 1863 – 1865 Aleksey Apukhtin được phái về công tác tại tỉnh Orlov, sau đó trở về Peterburg làm việc ở Bộ nội vụ. Aleksey Apukhtin nhiều lần được cử đi công tác ở nước ngoài. Những năm 1870 ông bị bệnh phù, càng về cuối đời càng nặng. Những năm tháng cuối đời ông không ra khỏi nhà vì rất khó khăn trong việc đi lại.

Aleksey Apukhtin biết làm thơ từ bé, được Ivan Turgenev và Anafasy Fet đỡ đầu. Năm 1854 in những bài thơ đầu tiên và sau đó liên tiếp in thơ ở nhiều tạp chí khác nhau nhưng đến năm 1886 ông mới in một tập thơ đầu tiên. Ngoài thơ, ông còn viết tiểu thuyết và kịch nhưng tất cả tác phẩm chỉ xuất bản sau khi mất. Ngày nhận được tin Aleksey Apukhtin qua đời, Tchaikovsky viết cho nhà thơ Davydov: “Mặc dù không bất ngờ vì cái chết của Aleksey Apukhtin, thế mà tôi cảm thấy khiếp sợ và vô cùng đau đớn. Một thuở đấy là người gần gũi và thân thiết nhất của tôi”. Pyotr Ilyich Tchaikovsky viết 6 khúc lãng mạn phổ thơ của Aleksey Apukhtin, gồm: Кто идёт (Ai người đi đến, 1860, đã bị thất lạc); Забыть так скоро (Người nỡ quên mau, 1870); Он так меня любил (Người đã yêu tôi như thế, 1875); Ни отзыва, ни слова, ни привета (Không lời nói, câu chào, không tiếng gọi, 1875); День ли царит (Ngày có lên ngôi, 1880); Ночи безумные (Những đêm điên cuồng, 1886).

Tác phẩm:
*Сочинения, 4 изд., т. 1—2, [Биография. очерк М. Чайковского], СПБ. 1895;
*Стихотворения. [Вступ. ст., подгот. текста, прим. Л. Афонина], Орёл, 1959;
*Стихотворения, Л., 1961.

Nguyễn Viết Thắng (b/s)
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hongha83

Konstantin Dmitrievich Balmont (15 tháng 6 năm 1867 – 24 tháng 12 năm 1942) là một nhà thơ lớn của thế kỷ bạc trong thơ Nga.

Tiểu sử:
Konstantin Dmitrievich Balmont sinh ở tỉnh Vladimir trong một gia đình dòng dõi quí tộc. Lên 10 tuổi biết làm thơ. Học trường gymnazy ở Vladimir. Từ năm 1886 học khoa luật Đại học Moskva nhưng không tốt nghiệp. Trong một lần xích mích với vợ, Balmont nhảy từ tầng 3 xuống đất tự tử nhưng không chết, hậu quả là phải đi cà nhắc suốt đời. Năm 1899 được bầu làm thành viên của Hội những người yêu ngôn ngữ Nga, sau đó bắt đầu in những tập thơ đầu tiên. Tiếp đến là một thời kỳ sáng tạo sung sức nhất của Balmont. Năm 1903 in các tập thơ: “Будем как Солнце”(Ta sẽ như mặt trời), “Только любовь. Семицветник” (Chỉ tình yêu. Bảy vườn hoa), Năm 1905 in: “Литургия красоты” (Thánh lễ của cái đẹp) và trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Từ năm 1907 – 1910 xuất bản ở Moskva “Полное собрание стихов”(Tuyển tập thơ) gồm 10 tập. Thời gian này Balmont đi du lịch rất nhiều nước châu Âu: Ý, Tây Ban Nha, Anh, Pháp và định đi sang Mexico. Năm 1905 Balmont quay trở về Nga làm quen với Maxim Gorky và cộng tác với báo Новая жизнь (Cuộc đời mới), tạp chí Красное знамя (Cờ đỏ). Cũng trong năm này bí mật đi sang Paris và chỉ trở về Nga vào năm 1916. Do không tán thành cuộc Cách mạng tháng Mười nên năm 1920 ông ra sống ở nước ngoài cho đến hết đời. Ông mất năm 1942 ở Noisy-le-Grand, gần Paris lúc đó bị Đức chiếm đóng.
Ngoài sáng tác thơ, Balmont còn là một dịch giả nổi tiếng của Nga. Phạm vi dịch thuật của ông rất rộng. Ông dịch các nhà thơ lớn của Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, Ba Lan, Séc, Gruzia, Litva, Phần Lan… tổng cộng hơn 30 ngôn ngữ của thế giới, trong đó có cả Kinh Phật, Upanishads, Kinh Vệ Đà của Ấn Độ.

Tác phẩm chính:
*Под северным небом (Dưới bầu trời phương Bắc, 1889)
*Тишина (Yên lặng, 1898)
*Горящие здания (Những ngôi nhà nóng bỏng, 1900)
*Будем как Солнце (Ta sẽ như mặt trời, 1903),
*Только любовь. Семицветник (Chỉ tình yêu. Bảy vườn hoa, 1903),
*Литургия красоты (Thánh lễ của cái đẹp, 1905)
*Песни мстителя (Những khúc hát của kẻ báo thù, 1907)
Toàn bộ tác phẩm của Balmont gồm 50 tập, trong đó 22 tập in ở nước ngoài.


Nguyễn Viết Thắng (b/s)
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hongha83

Andrei Dementiev (sinh ngày 16 tháng năm 1928) là nhà thơ, nhà báo Nga.


Tiểu sử:
Andrei Dementiev sinh ở Tver. Tốt nghiệp phổ thông năm 1946. Bắt đầu hoạt động văn học từ năm 1948, in thơ ở các báo và tạp chí. Năm 1948 – 1949 học năm thứ nhất ở Đại học Kalinin. Những năm 1948 – 1952 học ở trường viết văn Maxim Gorky.

Andrei Dementiev là cộng tác viên của báo “Sự thật Kalinin” (những năm 1953 – 1955), trưởng ban đời sống thanh niên của báo “Smena” (những năm 1955 – 1958). Từ năm 1967 ông sống ở Moskva, biên tập thơ của nhà xuất bản “Đội cận vệ trẻ”. Biên tập của tạp chí “Tuổi trẻ” (những năm 1981 – 1992). Những năm 1990 được cử làm đại diện của Đài truyền hình ORT (kênh 1 truyền hình Nga) ở Israel. Năm 2000 bị miễn nhiệm vì những bài thơ đăng ở báo “Thanh niên Moskva” phê phán những nhà lãnh đạo Nga sau thời cải tổ.

Andrei Dementiev là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của Nga nửa cuối thế kỷ XX. Ông được tặng giải thưởng của Đoàn thanh niên Komsomol năm 1981, và Giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1985.

Tác phẩm:
*Лирические стихи. Калинин. 1955
*Родное: Стихи. Калинин. 1958
*Дорога в завтра: поэма о Валентине Гагановой. Калинин. 1960
*Глазами любви: стихи. Калинин. 1962
*Про девочку Марину и про смешную птицу: Стихи. Калинин. 1963
*Солнце в доме: Стихи. М. 1964
*Наедине с совестью: Стихи. М. 1965
*Штрихи большой жизни: М. И. Калинин в родных местах. М. 1965
*Август из Ревеля: рассказы о М. И. Калинине. М. 1970
*Избранная лирика: Стихи. М. 1970
*Боль и радость: Стихи и поэма. М. 1973
*Первый ученик: рассказ о М. И. Калинине. М. 1973
*Рядом ты и любовь. М. 1976
*Азарт. М. 1983.
*Стихотворения. М. 1988.
*Снег в Иерусалиме. М. 1995.
*У судьбы моей на краю. М. 2002.
*Я живу открыто. М. 2003.
*Виражи времени. М. 2004.
*Избранное. М. 2004.
*Нет женщин нелюбимых. М. 2006.
*Новые стихи. М. 2006.

Nguyễn Viết Thắng (b/s)
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hongha83

Innokentiy Annensky (1 tháng 9 năm 1855 – 11 tháng 12 năm 1909) – nhà thơ, dịch giả, nhà phê bình Nga, là một nhà thơ lớn của văn học Nga thế kỷ bạc.


Tiểu sử:
Innokentiy Annensky sinh ở Omsk trong một gia đình công chức. Bố là trưởng đoạn đường sắt Omsk. Lên 5 tuổi gia đình chuyển về Sank-Peterburg. Cả bố và mẹ mất khi Annensky còn nhỏ nên ở với người anh trai – là nhà kinh tế học, nhà chính trị có ảnh hưởng đến sự nghiệp của Annensky sau này. Năm 1879 tốt nghiệp khoa ngôn ngữ Đại học Sank-Peterburg, Annensky làm giáo viên dạy tiếng Latin, tiếng Hy Lạp ở các trường gymnazy Peterburg, in các bài viết ở tạp chí của Bộ giáo dục. Năm 1891 làm hiệu trưởng trường gymnazy ở Kiev. Năm 1906 làm thanh tra giáo dục tỉnh Sank-Peterburg.
Annensky biết làm thơ từ nhỏ nhưng không sưu tập, chỉ đến năm 1904 mới in tập thơ đầu tiên Тихие песни (Những bài ca thầm lặng) theo lời khuyên của anh trai và chị dâu. Năm 1910 in tập Кипарисовый ларец (Chiếc hòm trắc bá diệp) và tuyển tập thơ sau khi chết in năm 1923. Thơ của Annensky, theo như lời của chính ông, là “sự thể hiện nỗi đau của tâm hồn thành thị”, cảm nhận mọi thứ qua tâm trạng của người theo chủ nghĩa ấn tượng. Ông có sự ảnh hưởng lớn tới các nhà thơ phái Asmeist như Anna Akhmatova, Nicolai Gumilyov, Osip Mandelstam.
Ngoài thơ và phê bình, Annensky còn là một dịch giả nổi tiếng của Nga. Ông dịch thơ của Euripides và một loạt các bi kịch nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại: Melanippa-phylosoph (1901), Tsar Ixion (1903), Laodamia (1906). Các nhà thơ cổ điển Pháp: Baudelaire, Verlaine, Rimbaud…
Ông mất ở Sank-Peterburg năm 1909.

Thư mục tiếng Nga:
*Тихие песни (под псевдонимом "Никто"), СПБ., 1904; 2-е изд., П., 1923;
*Кипарисовый ларец, вторая книга стихов, М., 1910; 2-е изд., П., 1923;
*Посмертные стихи, П., 1923;
*Фамира Кифарэд, вакхическая драма, СПБ., 1919;
*Книга отражений, СПБ., 1906; Вторая книга отражений, СПБ., 1909;
*Театр Эврипида, т. I, СПБ., 1907;
*Эврипид, драмы, М., 1916-1921 (из намеченных 6 тт. вышли I-III, текст переводов А. подвергся значительным переделкам со стороны редактора Ф. Ф. Зелинского);
*О современном лиризме: 1) "Они", 2) "Оне" (Обзор современной поэзии), статьи в журн. "Аполлон", № 1-3, 1909;
*Автобиографические материалы: Венгеров С., Критико-биографический словарь, т. VI, СПБ., 1904; Фидлер Ф., Первые лит-ые шаги, М., 1911; Архипов Е., Библиография А., М., 1914; Кривич В., А. по семейным воспоминаниям и рукописным материалам, альм. "Лит-ая мысль", III, Л., 1925.

Nguyễn Viết Thắng (b/s)
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Những tác giả trên đây đã được cập nhật xong!
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hongha83

Vladimir Nabokov ( 22 tháng 4 năm 1899 – 2 tháng 7 năm 1977)

Tiểu sử
Vladimir Nabokov sinh ở Sankt-Peterburg trong một gia đình quí tộc giàu có và lâu đời. Ông nội từng là Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Nga hoàng Aleksandr II và Aleksandr III. Bố là một nhà chính trị nổi tiếng, sau cách mạng tháng Hai làm bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ lâm thời Nga. Mẹ cũng là con gái của một nhà có dòng dõi quí tộc. Mặc dù vậy, Vladimir Nabokov là người hờ hững với chính trị. Tuổi nhỏ Nabokov thích sưu tập tem và nghiên cứu cuộc sống các loài bướm. Từ năm 1911 – 1916 học ở trường trung học Tenishevsky, nơi trước đấy Osip Mandelstam từng học. Năm 1916 in tập thơ đầu tiên Стихи (Thơ). Sau Cách mạng tháng Mười, Nabokov chuyển xuống vùng Crimea, nơi bố làm Bộ trưởng Tư pháp của cộng hoà Crimea. Sau khi Hồng quân chiếm Crimea, cả gia đình đi ra nước ngoài (tháng 4 năm 1919). Những năm 1919 – 1922 Nabokov học văn học Nga và văn học Pháp ở Đại học Cambridge; sau khi tốt nghiệp ông trở về Berlin cùng với gia đình. Năm 1927 ông cưới vợ và viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên: Машенька. Thời gian từ năm 1927 đến năm 1937 ông viết 8 tiểu thuyết bằng tiếng Nga.


Vladimir Nabokov trên bìa tạp chí TimeCuối thập niên 1930 Đức quốc xã nắm chính quyền ở Đức, gia đình Nabokov chuyển sang Paris; khi Thế chiến thứ hai xảy ra, cả gia đình sang Mỹ. Vì không còn cộng đồng người Nga ở châu Âu nên không còn bạn đọc bằng tiếng Nga, kể từ đây Nabokov chuyển sang sáng tác bằng tiếng Anh.

Cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh đầu tiên The Real Life of Sebastian Knight (Cuộc đời thực của Sebastian Knight, 1941), tiếp đến là nhiếu tiểu thuyết bằng tiếng Anh mà nổi tiếng nhất là Lolita, in ở Pháp năm 1955, ở Mỹ năm 1958, ở Anh năm 1959. Năm 1960 Nabokov trở về sống ở Montreux, Thuỵ Sĩ và tiếp tục viết một số tiểu thuyết, đáng kể nhất có Pаle Fire (Lửa nhạt, 1962), Ada, or Ardor (Ada hay Ardor, 1969). Ngoài sáng tác, Nabokov còn là một dịch giả thiên tài, ông là tác giả của các bản dịch Слово о полку Игореве (Bài ca về binh đoàn Igor), Евгений Онегин (Evgeny Onegin), thơ trữ tình của Pushkin, Lermontov, Tyutchev sang tiếng Anh; Alice's Adventures in Wonderland từ tiếng Anh sang tiếng Nga cũng như nhiều tiểu thuyết của mình. Vladimir Nabokov nói về mình: “Tôi là nhà văn Mỹ, sinh ở nước Nga, học văn học Pháp ở Anh trước khi chuyển về Đức ở 15 năm… Đầu tôi nói chuyện bằng tiếng Anh, tim tôi – bằng tiếng Nga, tai tôi – bằng tiếng Pháp”.

Vladimir Nabokov mất tại Montreux, Thuỵ Sĩ để lại cuốn tiểu thuyết The Original of Laura (Laura thực) đang viết dở.

Tác phẩm

Nhà của Vladimir Nabokov ở Sankt-Peterburg
[sửa] Văn xuôi viết bằnng tiếng Nga
Машенька (Mashen'ka, 1926)
Король, дама, валет (Vua, hậu và con nhép, 1928)
Защита Лужина (Bảo vệ Luzhina, 1930)
Соглядатай (Sogliadatai, 1930)
Подвиг (Chiến công, 1932)
Камера Обскура (Buồng Obscura, 1932)
Отчаяние (Tuyệt vọng, 1936)
Дар (Quà tặng, 1938)

Văn xuôi viết bằng tiếng Anh
The Real Life of Sebastian Knight (Cuộc đời thực của Sebastian Knight, 1941)
Bend Sinister, 1947
Lolita, 1955 (tác giả tự dịch sang tiếng Nga, 1965)
Pnin, 1957
Pale Fire (Lửa nhạt, 1962)
Ada, or Ardor (Ada hay Ardor, 1969)
Transparent Things (Những vật trong suốt, 1972)
Look at the Harlequins! (Hãy nhìn Harlequins!, 1974)

Thơ
Стихи (Thơ, 1916)
Альманах: Два пути (Hai con đường, 1918)
Горний путь». Берлин: Грани, 1923.
Возвращение Чорба: Рассказы и стихи (Chorba trở về: truyện và thơ, 1930)
Стихотворения 1929—1951 (Thơ 1929-1951), 1952
Poems. Garden City, 1959
Poems and Problems, 1971
Стихи, 1979

Dịch thuật
Từ Anh sang Nga
Alice's Adventures in Wonderland (1923)
Từ Nga sang Anh
Three Russian Poets: Selections from Pushkin, Lermontov, and Tyutchev (Ba nhà thơ Nga: Pushkin, Lermontov, Tyutchev, 1947)
A Hero of Our Time, by Mikhail Lermontov (Anh hùng của thời đại chúng ta, truyện của M. Lermontov, 1958)
The Song of Igor's Campaign (Bài ca về binh đoàn Igor, 1960)
Eugene Onegin, by Aleksandr Pushkin (Evgeny Onegin của Pushkin, 1964)

Nguyễn Viết Thắng

(hongha83 gửi)
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hongha83

Mikhail Vasilyevich Lomonosov ( 8 tháng 11 năm 1711 - 4 tháng 4 năm 1765, Sankt-Peterburg) là một nhà khoa học thực nghiệm tự nhiên nổi tiếng thế giới, nhà thơ, người đặt ra cơ sở cho tiếng Nga văn học hiện đại, họa sĩ, sử gia, người đóng góp cho sự phát triển của giáo dục, khoa học và kinh tế Nga, người khởi đầu của thuyết động học phân tử. Đại học Quốc gia Moskva mang tên ông.

Thân thế:
Lomonosov sinh ra tại làng đảo không xa Kholmogory, Viễn Bắc của Nga. Cha của ông, một người đánh cá, đã giữ người con bên cạnh mình để trợ giúp đến tận khi ông lên mười tuổi, nhưng sự say mê với tri thức của ông là vô tận. Một số quyển sách mà ông có được, ông đã học thuộc lòng. Thấy không có khả năng tiếp tục việc học tập ở quê nhà, ông đã quyết định đi bộ một khoảng cách khá xa, đến tận Moskva để học.

Khi ông lên mười bẩy, nhờ sự can thiệp của những người bạn, ông đã có một cơ hội được vào học tại Học viện ngôn ngữ La tinh-Hy Lạp-Slav (Славяно-греко-латинская академия). Tại trường, sự tiến bộ của ông đã rất nhanh chóng, đặc biệt là tiếng Latin. Năm 1734, ông được gửi tới Sankt-Peterburg, tại đây trình độ của ông lại tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học vật lý, ông là một trong những người trẻ tuổi được chọn để hoàn thiện trình độ giáo dục của họ ở ngoài nước.

Nguyễn Viết Thắng

(hongha83 gửi)
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 20 trang (193 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối