東坡八首其一

廢壘無人顧,
頹垣滿蓬蒿。
誰能捐筋力,
歲晚不償勞。
獨有孤旅人,
天窮無所逃。
端來拾瓦礫,
歲旱土不膏。
崎嶇草棘中,
欲刮一寸毛,
喟焉釋耒嘆,
我廩何時高。

 

Đông Pha bát thủ kỳ 1

Phế luỹ vô nhân cố,
Đồi viên mãn bồng hao.
Thuỳ năng quyên cân lực,
Tuế vãn bất thường lao.
Độc hữu cô lữ nhân,
Thiên cùng vô sở đào.
Đoan lai thập ngoã lịch,
Tuế hạn thổ bất cao.
Khi khu thảo cức trung,
Dục quát nhất thốn mao,
Vị yên thích lỗi thán,
Ngã lẫm hà thì cao.

 

Dịch nghĩa

Ruộng đất bỏ hoang, không ai đoái tưởng tới,
Vườn tược đổ nát, lau lách mọc đầy.
Ai mà ra gân sức cho nổi,
Rồi vãn một năm không bù lại công khó.
Chỉ có người bị lưu đày cô quạnh,
Góc bể chân trời không chỗ trốn.
Mới hăm hở đến dọn gạch, dọn ngói,
Năm hạn, đất không dẻo.
Giữa đám gai lởm chởm,
Chừng như muốn bứt từng sợi lông.
Rồi bùi ngùi buông cày đứng than thở,
Biết bao giờ cho đụn lúa đầy cao?


Hoàng Châu, năm Nguyên Phong thứ 5 (1082) đời Tống Thần Tông

Lời dẫn: “Dư chí Hoàng Châu nhị niên, nhật dĩ khốn quỹ, cố nhân Mã Chính Khanh ai dư phạp thực, vi ư quận trung thỉnh cố dinh địa sổ thập mẫu, sử đắc cung canh kỳ trung. Địa ký cửu hoang vi tỳ cức ngoã lịch chi trường, nhi tuế hựu đại hạn, khẩn tịch chi lao, cân lực đãi tận. Thích lỗi nhi thán, nãi tác thị thi, tự mẫn kỳ cần, thứ kỷ lai tuế chi nhập dĩ vong kỳ lao yên.” 余至黃州二年,日以困匱,故人馬正卿哀余乏食,為於郡中請故營地數十畝,使得躬耕其中。地既久荒為茨棘瓦礫之場,而歲又大旱,墾辟之勞,筋力殆盡。釋耒而嘆,乃作是詩,自湣其勤,庶幾來歲之入以忘其勞焉。 (Tôi đến Hoàng Châu được hai năm, càng ngày càng túng quẫn. Người bạn cũ Mã Chính Khanh, cám cảnh tôi thiếu ăn, nên lo hộ trong quân cho tôi được vài mươi mẫu đất trồng trọt, để tôi ở đó cày cuốc. Đất bỏ hoang từ lâu, gai, tranh, gạch ngói, các thứ chen chúc nhau tràn lan. Mà năm lại gặp đại hạn, việc khai khẩn quá mệt nhọc, gân sức rã rời hết, buông cày đứng than thở. Mới làm các bài thơ đó. Tự an ủi sự siêng năng của mình sẽ được đền bù năm sau, do đó quên cả mệt nhọc.)

Bản dịch nghĩa trong Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (Tuệ Sỹ, NXB Ca Dao, 1973).