Lúc trong nhà thương Hàn Mạc Tử có một người bạn “tương liên” không rời, tên Nguyễn Văn Xê. Lúc Tử mất chỉ có mình anh Xê ở bên giường bệnh, gia đình, bằng hữu đều ở xa.

Dưới đây là hồi kí của Nguyễn Văn Xê về những ngày anh tiếp xúc với Tử.

Buổi sáng mùa thu ngày 20-9-1940. Nơi nhà thương Nam ở Quy Hoà những bệnh nhân già yếu đang run lên vì gió lạnh từ biển thổi vào. Mẹ Juetta người phụ trách nhà thương Nam đẩy chiếc xe đi băng bó các vết thương của từng bệnh nhân với những thao tác nhẹ nhàng và nụ cười tươi vui, lời thăm hỏi đầy thân ái. Bỗng có tiếng thắng xe ô tô trước cổng. Các bệnh nhân người nhìn quan cửa sổ, người nhanh chân chạy ra gần chiếc xe. Anh em còn trong nhà thì bàn tán: “Chà, ai vô đây? Già hay trẻ? Bệnh nặng hay nhẹ?”. Còn mẹ Juetta lẹ làng chạy ra cửa tiếp hồ sơ nơi tay bác y tá đứng tuổi với nụ cười và lời cảm ơn. Ngoài sân, bác tài xế già cũng đã mở cửa, nhưng người bệnh đó như bị tê hai chân nên gắng gượng lắm mới đứng lên được, đầu gối run run bước từng bước một, tay bám vào xe cho khỏi ngã. Mẹ Juetta: “Mau đưa tay cho mẹ đỡ xuống con”. Mẹ nói và bước tới xốc đỡ người bệnh xuống đất một cách nhẹ nhàng. Theo bàn tay dìu đỡ của mẹ Juetta, người bệnh cố đi như lết, đầu cúi xuống trước bao cặp mắt dán theo cái hình hài gầy gò, nhỏ thó: “Kia là ai? Từ đâu tới?” Đến giường số 3, mẹ dừng lại, nhìn vào hồ sơ và nói: “Trí, đây, đây là chỗ của con”. Tôi ôm mớ hành lý gói bằng giấy báo cũ của Trí để lên đầu chiếc tủ con rồi tiếp tay với anh lao công trải chiếu chăn cho Trí. Làm xong tôi mới nói với Trí- khi đó, đang đứng vịn vào giường run run- “Anh Trí lên giường nằm cho khoẻ”. Trí gật đầu rồi rút đôi chân sưng đen ra khỏi đôi ba-ta trắng cũ rich đã ngả qua màu vàng xám có mùi hôi thối- bị đạp nhẹ ở cuối gót để thành dép lê dễ xỏ chân.

Mẹ Juetta bưng đến một tách lớn đầy sữa nóng, và múc từng muỗng cho Trí uống. Trí e ngại nói: “Xin mẹ để con tự bưng uống được”. Mẹ lắc đầu nói: “Không được, để mẹ đút cho con uống vì sữa nóng sẽ làm con phỏng tay”. Rồi mẹ sung sướng mỉm cười thấy Trí cố gắng uống cạn ly sữa. Mẹ nói: “Con nằm nghỉ, chút nữa ăn cơm”. Trí lễ phép: “Con cám ơn mẹ”. Khi mẹ Juetta quay về phòng thuốc rồi, mọi người quan sát thấy Trí mặc đồ bà ba trắng, ngoài khoác chiếc veston màu trắng bám đầy bụi đường, cổ choàng chiếc khăn lông trắng. Trí trang phục rườm rà thế, nhưng vần không sao che nổi tấm thân gầy còm, ốm yếu. Trí để nguyên quần áo nằm trên giường lim dim mắt.

Đến 11 giờ trống bào hiệu giờ cơm trưa, tôi đến bên giường Trí nói: “Anh Trí ra dùng cơm trưa”. Trí mệt nhọc ngồi gượng dậy nói:“Cám ơn anh, tôi sẽ ra” rồi khập khiễng lê từng bước ra khỏi bàn ăn và cố gắng ăn nửa chén cơm chan canh rau. Tôi đã thấy ngay là Trí không đả động đến món cá biển tuy là hôm ấy cá rất tươi ngon. Mẹ Juetta thấy Trí ăn quá ít nên đến ép Trí cố gắng ăn thêm, nhưng Trí vẫn một mực chối từ: “Thưa mẹ, cám ơn mẹ, con đã no lắm rồi”. Sau bữa ăn, tôi đem đến cho Trí một chén trà nguội, và đưa Trí về giường, rồi tôi mới về nhà làng.

15 giờ hôm ấy, tôi trở lại thăm và trò chuyện với Trí để tìm hiểu: “Tôi là Nguyễn Văn Xê, người Huế, vào trại đã hai năm, hiện đang giúp việc cho các mẹ”. Trí cười: “Tôi là Trí, Nguyễn Trọng Trí, chắc anh Xê nghe giọng nói cũng biết là người cũng ở gần Huế”. Tôi cười vui: “Vậy thì anh Trí ở Quảng Bình hay Quảng Trị phải không?”. Trí gật đầu cùng với tiếng cười, tôi lại nói: “Tôi còn nhỏ lắm, mới 21 tuổi thôi, xin anh Trí hãy gọi bằng em cho thân mật”. Trí lại lắc đầu nói: “Anh Xê đừng quan tâm chuyện tuổi tác, tôi cũng còn nhỏ mà”. Tôi lại tò mò: “Vậy anh Trí năm nay bao nhiêu tuổi?”. Trí nói nhỏ vừa đủ tôi nghe: “Hai mươi tám”. Tôi cười vui nói: “Vậy là làm anh đúng rồi”. Trí không chấp nhận hay phủ nhận, mà lại hỏi tôi: “Nhà anh Xê ở mô?” Tôi trả lời ngay: “Ở bên Lào, tỉnh Savanakhet lận, còn anh?” Trí có vẻ hơi xúc động trong giọng nói: “Nhà tôi ở ngay Quy Nhơn”. Nghe vậy tôi không giấu được sự ngạc nhiên, liền hỏi: “Ở ngay Quy Nhơn mà anh không vào đây ngay chữa trị?” Sau câu hỏi này của tôi thì Trí lộ vẻ xúc động với đôi mắt long lanh buồn thảm: “tôi nghĩ không bao giờ mình bị bệnh này anh Xê à”. Tôi buộc miệng nói ngay: “Uổng quá”. Thấy mình lỡ lời nên vội vàng nói thêm: “Nhưng cũng không muộn màng gì đâu anh Trí, anh yên tâm chữa trị vài tuần thì sẽ thấy khỏi ngay”. Trí lúc này thật buồn, nói như bị nấc cụt: “Tôi tuyệt vọng rồi hy vọng, hy vọng rồi tuyệt vọng đã mấy năm nay rồi”. Thấy thế nên tôi vội an ủi: “Bây giờ anh phải hy vọng vì chữa thầy đã đúng chỗ rồi”. Trí cũng rầu rầu nói với vẻ mặt không tin tưởng: “Khắp các tiệm thuốc Bắc và các ông bà thầy thuốc Nam ở Bình Định tôi đến chữa không sót một người, mà càng ngày thân thể ra thế này”. Thấy câu chuyện không ngờ làm Trí buồn lòng, tôi nói vài lời an ủi Trí rồi tạm biệt Trí đi về cho Trí được thảnh thơi nghỉ ngơi, tránh xúc cảm.

Thấm thoát thời gian trôi mau, Trí vào Quy Hoà đã được ba tuần lễ. Nhờ sự chăm sóc chu đáo, tận tuỵ của các nữ tu dòng Thánh Francois Dassise mà đặc biệt là mẹ Juetta phụ trách nhà thương Nam là người lo lắng cho Trí nhất, nên bệnh tình của Trí thuyên giảm rõ rệt.

Trí và tôi thường trò chuyện với nhau và có lần Trí thổ lộ tâm tư đôi chút: “Tôi đến Quy Hoà này nơi có bãi biển, rừng dừa xanh, núi non hung vĩ, cù lao xanh huyền ảo, đặc biệt là tình người, nên tôi được hưởng cái bình an của nội tâm, cái thanh tao của nguồn vui tưởng như đã chết trong tôi khi ở thôn Tấn đầy đau khổ, nghèo túng”.

Cả buổi trưa cho đến tối ngày 30-1-1940 tôi bận việc, nên sáng hôm sau mới hay Trí đi kiết đến kiệt sức nên không thể đi nhà thờ. Khi tôi đến thăm Trí thì thấy anh phờ phạc, xanh xao nhiều lắm, đề nghị xin mẹ Juetta cho anh vào trong phòng liệt cho tiện. Trí có nói với tôi là từ khi mắc bệnh cũng như khi vào Quy Hoà ngày ngày Trí ăn thịt heo nạc kho tiêu với cơm hoặc cháo, Tôi để ý điều này đúng y như vậy, cứ mỗi tuần lễ thì có anh Hành là người nhà mang từ Quy Nhơn vào thịt heo kho tiêu, thứ thịt heo nạc không mỡ được ram mặn đựng trong chiếc cà men nhôm. Rồi suốt hơn một tuần lễ từ 30-10-1940 đến bảy-11-1940 bệnh kiết lỵ của Trí vẫn không giảm, mà có phần tăng thêm, nên trông Trí người khô đét, gầy guộc xanh xao đến thảm não.

Đêm 8-11-1940 – phiên trực của tôi. Lúc 21 giờ, Trí đột nhiên ngồi dậy lấy từ trong áo gối ra hai tập giấy đánh máy đóng rất đẹp rồi hỏi tôi: “Anh Xê đã có tình yêu chưa?” Câu hỏi bất ngờ quá, nhưng tôi vẫn trả lời: “Từ nhỏ đến giờ tôi chỉ có một tình yêu duy nhất đối với Thiên Chúa mà thôi”. Trí gật đầu rồi lấy cây bút chì cùn trong túi áo veston ra ghi dòng chữ như sau: “Thơ cầu nguyện đề tặng anh Xê- Francois Trí” Rồi anh ghi tiếp tập thơ Đời đề tặng anh Phạm Văn Trung, và rồi đưa tôi cả hai tập nói: “Thơ cầu nguyện là tặng anh, còn thơ Đời là tặng anh Trung, nhờ anh đưa giúp”. Thú thật, lúc ấy không hiểu tại sao tôi không thể nói một lời, dù là một lời cảm ơn thong thường nhất, tay cứ mân mê hai tập thơ mỏng độ ba bốn mươi trang.

Đêm ấy Trí đi tiêu rất nhiều lần, mỗi lần đi có một chút đờm và vài giọt máu, Trí mệt lả bước không nổi, tôi phải dìu đi rồi dìu về giường nằm. Đêm càng khuya thì sức tôi cũng mệt, nên tôi đã ngủ quên chắn cả lối đi, không ngờ trong lúc ấy Trí tuột xuống giường đi không nổi...

Sáng 9-11-1974, sau khi khám bệnh, mẹ Juetta bưng chén thuốc cho Trí uống xong nói: “Chiều nay có xe đi mới cha tuyên uý vào xức dầu cho con”. Trí gật đầu và dạ rất nhỏ.

Sáng 10-11-1940, lúc 6h 45’ cha cho Trí chịu phép xức dầu và rước lễ. Nguyên ngày hôm ấy Trí vẫn đi tiêu nhưng tôi thấy tinh thần Trí tươi tỉnh khi nói chuyện với tôi. Tôi hỏi Trí có cần gì thì thành thật bảo với tôi. Trí đọc cho tôi hai địa chỉ cần báo tin khi Trí chết:
1) Trần Thanh Mại - Trésor - Huế
2) Quách Tấn

Tôi hỏi Trí có cho gia đình biết tin không, thì Trí nói: “Rồi anh Hành sẽ vào, và dĩ nhiên mẹ và gia đình tôi tất biết”.

Đêm nay tôi trực với mẹ Juetta và xơ Julienne. Chúng tôi có đến thăm Trí ba lần, và lần thứ ba lúc khoảng 3 giờ thì xơ Julienne cho biết từ giờ đến sáng Trí sẽ chết. Ngày 11-11-1940 thì Trí đã tắt thở. Sau khi báo tin cho các mẹ, tôi và an hem cùng giúp thay quần áo cho Trí và khâm liệm. Xong xuôi đâu đó thì anh em bệnh nhân đến đọc kinh cầu nguyện. Khi ấy tôi thu gọn “tài sản” của Trí gồm một bộ bà ba trắng cũ, một veston cũ, một đôi ba-ta sắp hư, một gối con, một cuốn sách dày 200 trang của Rousseau và một bài văn tiếng Pháp viết bằng bút chì, mà lúc thay đồ cho Trí tôi lấy ở trong túi xem qua, đó là bài văn “La Purett de l’ame” (sự trong sạch tâm hồn). Và tuyệt nhiên không có một xu hào nào trong túi Trí từ khi vào cho đến chết.

Trên đường trở về nhà thương, vừa đi tôi vừa suy nghĩ về Trí, về sự khiêm nhường của Trí là từ ngày vô cho đến chết Trí chưa hề nói tiếng Pháp với bất cứ mẹ nào. Lúc nào tôi cũng là người thông ngôn. Biết Trí làm thơ, viết văn thì tôi lại càng áy náy hơn, nhưng sự thất là tôi vần chưa hề biết Trí là nhà thơ có tiếng tăm ngoài đời.

Sau khi Trí chết chôn ba ngày, thì anh Hành theo thường lệ hàng tuần đem thịt heo nạc kho tiêu vào cho Trí, mới được tin Trí qua đời. Qua ngày hôm sau, mẹ và chị Lể của Trí tức tốc vào Quy Hoà. Tôi hướng dẫn gia đình Trí đi thăm mộ. Nơi đây tôi không thể cầm được giọt lệ trước một người mẹ khóc đứa con yêu, một người chị khóc em trong buổi chiều đông se se lạnh.

Sau khi Trí chết, tôi theo di ngôn gửi thư báo tin ngay cho Trần Thanh Mại và Quách Tấn. Một ngày cuối hạ 1941, tôi đang ở nhà riêng thì có người xuống gọi bảo tôi lên hướng dẫn cho thân nhân anh Trí ra thăm mộ. Tôi vội vã lên nhà dòng thì gặp một đôi thanh niên nam nữ. Tôi hướng dẫn họ đi ra nghĩa trang. Có điều tôi lấy làm lạ là người thanh nam thì im lặng cúi đầu đếm bước, người thanh nữ kia thì đã khóc tự lúc nào nên tôi không thể “tò mò” là gì của anh Trí. Đến mộ anh Trí rồi tôi quay về ngay, vì bận nhiều công việc, tuy có thấy cây thánh giá mộ anh Trí đã rớt ngã bên đường. Bây giờ nhờ Phạm Xuân Tuyển trực tiếp gặp bà Mai Đình tôi mới biết người thanh nữ khóc nức nở lúc đó là bà Mai Đình và người thanh niên là bạn trai làm ngành đường sắt ở Quy Nhơn “hộ vệ” bà vào Quy Hoà...


Trích Tạp chí Sông Hương số 28.