“Cô độc” là một bài thơ thiên về bộc lộ tâm trạng trực tiếp. Nó không xây dựng nhiều hình tượng phức tạp hay ngôn ngữ cách tân, mà chủ yếu dựa vào sự đồng cảm: nỗi lẻ loi của một người sống âm thầm giữa đời thường. Chính vì vậy bài dễ hiểu, dễ chạm tới một bộ phận người đọc, nhưng đồng thời cũng bộc lộ khá rõ giới hạn về chiều sâu nghệ thuật.
Cảm xúc chân thành và gần gũi
Điểm dễ thấy nhất là bài không “màu mè” quá nhiều bằng chữ nghĩa. Những câu như:
“Chẳng một ai rủ đi chơi cuối tuần”
Rất đời thường.
Nó không phải nỗi cô đơn kiểu triết lý cao siêu, mà là:
Không có ai nhắn tin,
Không ai hẹn gặp,
Sống lặng lẽ giữa đời sống xã hội.
Chính cái bình thường này khiến nhiều người dễ thấy mình trong bài thơ.
Có vài ý khá đúng về tâm lý cô độc
Ví dụ:
“Phố đông vẫn thấy cô liêu trong lòng”
Là một ý quen nhưng đúng:
Cô đơn không phải chỉ là ở một mình,
Mà có thể xảy ra giữa đám đông.
Hay:
“Là kẻ tỉnh nhất giữa ngàn người say”
Đây là câu có chiều suy tư nhất bài.
Nó gợi cảm giác:
Người cô độc là người đứng ngoài cuộc vui,
Tỉnh táo hơn,
Nhưng cũng lạc lõng hơn.
Câu này giúp bài vượt khỏi mức “than buồn” đơn thuần một chút.
Nhưng nhìn kĩ thì hầu như bài thơ liên tục gọi tên trạng thái:
“Người cô đơn…”
“Người cô đơn…”
“Người cô đơn…”
Điều này khiến bài thiếu tính khám phá hình tượng. Thơ mạnh thường để:
Cảnh,
Chi tiết,
Hành động, tự nói lên nỗi cô đơn thay vì nhắc đi nhắc lại chữ “cô đơn”.
Ví dụ:
“Một mình ngồi ngắm mưa xuân”
Là hình ảnh tốt hơn nhiều so với việc tuyên bố:
“Người cô đơn nhất cuộc đời”.
Và bài thơ có xu hướng cường điệu cảm xúc
Các câu như:
“Người cô đơn nhất thế gian”
hay:
“Người cô đơn nhất cuộc đời”
Tuy cấu trúc: Việc sử dụng điệp từ “Người cô đơn nhất...” ở đầu mỗi khổ thơ là một thủ pháp tạo điểm nhấn (điệp cấu trúc). Nó giúp bài thơ có tính hệ thống, giống như một bản liệt kê các trạng thái của nỗi đơn độc.
Nhưng nó cũng khiến bài thơ, với kiểu nói này dễ làm cảm xúc trở nên “kể lể, than phiền” nếu không có hình tượng đủ lớn chống đỡ.
Người đọc có thể cảm:
buồn thì có buồn, nhưng chưa chắc tin vào độ sâu của nỗi buồn ấy.
Và trong một số câu hơi xuôi ý
Ví dụ:
“Đi ngủ cũng ít khi mơ”
Hay:
“Chục năm lẻ bóng bao giờ biết yêu”
Gần với lời tâm sự hơn là thơ.
Nghĩa và ý được truyền đạt rõ, nhưng chưa được cô đọng thành hình tượng hoặc nhạc tính đặc biệt. Bài thơ thuộc thể loại lục bát mà đọc vào còn tưởng là văn xuôi ấy chứ. Ngôn ngữ bình dân đến mức “bình thường”.
Ngôn từ trong bài thơ quá gần với văn xuôi và ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày. Những cụm từ như: “rủ đi chơi cuối tuần”, “đi ngủ cũng ít khi mơ”, “chục năm lẻ bóng”... thiếu tính hàm súc và hình tượng của thơ ca.
Thơ là sự tinh lọc ngôn ngữ, nhưng ở đây tác giả chọn cách kể lể trực diện. Điều này làm bài thơ trở nên phẳng, thiếu những “khoảng trắng” để người đọc tự chiêm nghiệm.
Điểm đáng chú ý là bài này không cố “cao siêu hoá” cô đơn. Nó diễn tả một kiểu cô độc rất hiện đại:
Không ai rủ đi chơi,
Sống đều đều,
Không say,
Không yêu,
Lạc lõng giữa phố đông.
Đó là nỗi cô đơn xã hội đời thường, không phải nỗi sầu sâu xa.
Vì vậy dù nghệ thuật không quá đặt sắc, bài vẫn có khả năng khiến nhiều người đồng cảm.
Nhìn chung bài thơ nói hộ được nỗi lòng của nhiều người trong xã hội hiện đại – những người cảm thấy lạc lõng ngay cả khi ở giữa đám đông. Nó chân thành, mộc mạc và dễ đi vào lòng người bình dân. Nhưng có điều bài thơ chỉ dừng lại ở mức độ ghi chép cảm xúc hơn là sáng tạo nghệ thuật. Tư duy thơ còn bị đóng khung trong những khuôn mẫu cũ, ngôn từ thiếu sự gọt giũa và biểu cảm đa tầng.
Tổng thể thì bài thơ này thích hợp để đọc trong những lúc tâm trạng vơi đầy, cần một sự đồng cảm nhanh chóng, nhưng khó có thể đọng lại lâu trong tâm trí những độc giả khó tính hay những người tìm kiếm sự bứt phá về ngôn ngữ thơ ca.
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.