Bài viết này là một vài ý kiến trao đổi của chúng tôi về một vấn đề đã có hoài nghi từ khá lâu nay. Đó là xuất xứ một bài thơ được cho là của nhà sư Dương Không Lộ (? – 1119) đời Lý: bài Ngư nhàn:

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

Dịch thơ (Kiều Thu Hoạch):
Trời xanh nước biếc muôn trùng
Một vùng sương khói, một vùng dâu đay
Ông chài ngủ tít ai lay
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền.
Phải nói rằng đây là một bài thơ tứ tuyệt rất hay, do Đinh Gia Thuyết công bố lần đầu tiên trong bài Một vị Thánh tăng của Ninh Bình, trên tờ Đuốc Tuệ số 75, sau đó Viện Văn học chính thức đem vào phần văn học sử thời đại Lý - Trần. Sau này, trong nhiều tuyển tập nghiên cứu, phê bình, lý luận về văn học Lý - Trần khác, bài thơ này đã được giới thiệu, công nhận như một bài thơ của Dương Không Lộ. Tuy nhiên xuất xứ của bài thơ “ít nhiều đáng nghi vấn” (Chú thích của Viện Văn học trong cuốn Thơ văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977, tr.386). Mối hoài nghi về xuất xứ không rõ ràng ấy của bài thơ Ngư nhàn khiến chúng tôi trong quá trình tiếp xúc với các văn bản Hán văn luôn lưu tâm, chú ý, may ra tìm được một cứ liệu xác đáng. Và rồi trong một lần gần đây, chúng tôi được đọc một bài thơ rất giống với Ngư nhàn. Đó là bài Tuý trước của tác giả Hàn Ác in trong cuốn Toàn Đường thi quyển hạ, Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã ấn bản năm 1995. Về cuốn sách này xin được giới thiệu vắn tắt như sau: Toàn Đường thi là một bộ sách gồm hai quyển (quyển Thượng và quyển Hạ) do công sức của rất nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu, phụng sắc vua Khang Hy nhà Thanh biên soạn mà thành, trong đó tập hợp hơn 48.000 bài thơ của 2.200 nhà thơ đời Đường (618 - 907). Có thể nói đây là một công trình sưu tập lớn nhất về thơ Đường.

Đối chiếu hai bài thơ Tuý trước và Ngư nhàn của hai tác giả (trong bài viết này vẫn tạm coi Ngư nhàn là của Dương Không Lộ) có cách biệt rất lớn cả về không gian và thời gian lại chẳng thấy có khác biệt nào ngoài đầu đề Tuý trước (Say mèm) # Ngư nhàn (Cái nhàn nhã của làng chài) và một chữ duy nhất, chữ thứ 17: tuý (say rượu) thuỵ (ngủ)… Hàn Ác viết là: Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán, còn Không Lộ lại viết: Ngư ông tuý trước vô nhân hoán.

Những khác biệt về hình thức này tưởng như không gây khác biệt lớn về nội dung của hai bài thơ. Nhưng thực ra thì không phải như vậy. Ngay tên gọi của hai bài thơ cũng đã hướng chúng ta vào hai đối tượng chủ thể hoàn toàn khác nhau, mang lại những cảm nhận rất cách biệt nơi người đọc. Xem xét kỹ hai bài thơ, ta có cảm giác như bài Ngư nhàn là một sự sửa chữa cẩu thả nào đó từ bài Tuý trước. Có hay không điều đó? Dầu sao, chúng tôi cũng mong muốn chuyển đến các bạn vài suy nghĩ của riêng mình.

Thử ngược lại thời gian theo tiến trình công tác sưu tập thơ văn Lý - Trần ta thấy có hơn năm trăm năm lịch sử chia làm ba thời kỳ rõ ràng. Thời kỳ đầu thế kỷ XV với một số công trình tiêu biểu như: Việt âm thi tập (Phan Phu Tiên - 1433), Tinh tuyển chư gia luật thi (Dương Đức Nhan), Trích diễm thi tập (Hoàng Đức Lương - 1497). Thời kỳ thứ hai thế kỷ XVII - XVIII với các công trình Khoá hư lục (Trần Thái Tông), Thiền Uyển tập anh… Thời kỳ thứ ba: nửa đầu thế kỷ XX với một số lượng rất khiêm tốn các tác phẩm được sưu tầm và trong đó lại có khá nhiều sai sót. Nguyên nhân là do qua thế kỷ XVIII việc phát hiện tài liệu mới hầu như không còn. Người ta đành bằng lòng sao đi chép lại những cái đã tìm ra từ trước, để rồi kết quả là các văn bản càng thêm sai lạc. Thế nhưng việc giới thiệu thơ văn Lý - Trần đột nhiên dấy lên thành phong trào vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XX. Chủ yếu là các bài viết của các tác giả: Đinh Văn Chấp, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật, Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Thi Nham Đinh Gia Thuyết, Nguyễn Lợi, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm… trên một số sách báo như Nam Phong, Đuốc Tuệ, Tri Tân… Đương nhiên trong tình hình muộn mằn của thế kỷ XX, mà những mảnh tài liệu còn sót lại sau năm. sáu trăm năm không những đã sai lạc quá nhiều mà còn phân tán, muốn giải đáp thấu triệt vấn đề thì còn phải mất nhiều thì giờ. Một ít cố gắng bước đầu chưa thể nào thoả mãn được điều mà mọi người mong đợi, nhất là những cố gắng này phần lớn không dựa trên những phương pháp khoa học chặt chẽ, và cho đến nay một số trong đó đã dần để lộ những khe hở nghiêm trọng. Xin được kể lại một ví dụ minh chứng cho điều này: Năm 1921, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, cho dịch đăng trên báo Nam Phong (số 40, 7 – 1921) tiểu thuyết Lĩnh Nam dật sử, nói là của Ma Văn Cao một nhà văn người dân tộc Dao ở vùng núi tỉnh Hoà Bình ngày nay, sáng tác bằng chữ dân tộc vào thế kỷ XI, cuối đời Lý, và do Trần Nhật Duật dịch ra chữ Hán năm 1297. Một phát hiện thật bất ngờ nhưng cũng để lại nhiều ngờ vực. Và sau đó, liên tục trên các sách báo, Lĩnh Nam dật sử nghiễm nhiên được coi là một tác phẩm xuất hiện vào đời Trần. Nhưng cuối cùng thì các nhà thư tịch học đã giải quyết xong vấn đề gốc gác của tiểu thuyết này. Đó là một tác phẩm nguyên của Trung Quốc, có tên: Hội đồ Lĩnh Nam dật sử ra đời vào cuối thế kỷ XVIII. Sở dĩ có sự nhầm lẫn này của ông Đông Châu là vì sách Hội đồ Lĩnh Nam dật sử đã bị ai đó “chế biến” lại, thay đổi tên tác giả, sửa chữa chút ít về nội dung và bài tựa, rồi bán cho Thư viện Viễn đông Bác cổ để kiếm hời. Đông Châu chỉ mới đọc thấy có một bản sao kém cỏi này mà đã vội đưa ra một kết luận. Thật đáng buồn khi mà trong xã hội thực dân, “đồ cổ” văn chương cũng trở thành vật mua bán khiến cho xuất hiện những tác phẩm giả mạo. Thêm vào đó, những sai sót về mặt phương pháp của một số người sưu tầm, nghiên cứu - mà những người này đến nay đều đã quá cố - đã dẫn đến những ngờ vực khó làm sáng tỏ. Phải chăng Ngư nhàn cũng có chung một số phận phiêu diêu kiểu Lĩnh Nam dật sử? Ngày nay chúng ta không ai biết Đinh Gia Thuyết dựa vào nguồn tư liệu nào mà ông có thể khẳng định một bài thơ có tên Ngư nhàn do Không Lộ Thiền sư để lại cho hậu thế.

Dương Không Lộ, tên thực và năm sinh đến nay vẫn chưa rõ. Quê ở làng Hải Thanh, thuộc lộ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Ninh Bình. Tổ tiên ông làm nghề chài lưới. Đến đời ông mới bỏ nghề ấy đi tu. Từng tu ở các chùa Nghiêm Quang (?), Chúc Thánh (trên núi Phả Lại), Hà Trạch (?). Ông là một nhà chân tu, chuyên nghiên cứu Thiền tông và Mật tông. Có một số truyền thuyết kể rằng ông tu luyện đạt đạo, có thể đi trên nước, bay giữa trời, đánh chết hổ và vật ngã rồng (trong Lĩnh Nam chích quái và Lịch triều hiến chương loại chí). Ông cùng Thiền sư Giác Hải du ngoạn những nơi danh lam thắng cảnh, sống gần gũi với thiên nhiên, hoàn toàn thoát tục, chuyên tâm tu luyện để thành chính quả. Chắc hẳn ông là một nhà sư rất giỏi thơ văn lúc bấy giờ. Tác phẩm của ông sưu tầm được không nhiều, chỉ vẻn vẹn có hai bài thơ tứ tuyệt: Ngôn hoài (tỏ nỗi cảm hoài) và Ngư nhàn.

Thật đáng tiếc cả hai bài thơ này đều đang để lại cho chúng ta những dấu hỏi ngờ vực. Trước đây, người ta đã tranh cãi khá lâu về xuất xứ của bài thơ Ngôn hoài. Có nhiều người đặt vấn đề liệu Ngôn hoài có phải là sáng tác của sư Không Lộ, hay đó chính là dị bản của một bài thơ Đường. Một số ý kiến khác lại cho rằng Ngôn hoài có nhiều chỗ giống với một bài thơ của Lý Tường Trung Quốc, nhưng chỉ do đó là một sự vận dụng thơ cổ vào trong các sáng tác thời xưa. Những tranh luận đó vẫn chưa đến hồi ngã ngũ, thì bây giờ lại đến lượt bài thơ còn lại: Ngư nhàn sắp phải đặt lên bàn để các chuyên gia xem xét.

Theo ý kiến chủ quan của chúng tôi, Tuý trước (say mèm) là một cái tên có logic và hợp lý hơn Ngư nhàn (cái nhàn nhã của làng chài). Chính vì đặt trong mối quan hệ với đầu đề của bài thơ, mà từ thuỵ (ngủ) là một sự câu nệ bất đắc dĩ. Trong khung cảnh thanh bình giữa cái bát ngát, rộng dài của sông nước, của trời cao, tác giả của bài thơ Ngư nhàn không thể tả một ông già vô tâm say rượu tuý luý, mà phải là một ông già lười biếng, ngủ quên công việc thì mới lột tả được nhàn nhã của làng chài. Dù dùng từ thuỵ hay tuý thì bài thơ vẫn là một bài tả cảnh rất đặc sắc, cho thấy tác giả của nó là người vui thích điền viên, thích cuộc sống nhàn nhã, an lạc. Chất trữ tình lãng mạn của bài thơ không hề mang ý vị cửa Thiền. Hai câu thơ cuối cho ta thấy những bất hợp lý:
Ông chài ngủ say quá, không ai gọi,
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết xuống đầy thuyền.
Trong cái lạnh giá của băng tuyết phủ đầy, một ông già rất khó có thể ngủ say quá quên cả không gian, thời gian, công việc, nhưng nếu là say rượu quá thì câu thơ dễ được chấp nhận hơn về mặt logic. Vả lại cái cảnh tuyết rơi, dù là một ngàn năm về trước cũng khó có thể xảy ra ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta. Không gian trong bài thơ dễ gợi trí ta liên tưởng đến một vùng quê nào đó ở phương Bắc hơn. Vậy lẽ nào Không Lộ Thiền sư lại viết bài thơ này trong một dịp ông du ngoạn đến tận phương Bắc xa xôi? Tuyết là một hình ảnh rất thường gặp trong thơ văn, điển cố Trung Quốc, nhưng rất hy hữu xuất hiện trong thơ văn (nhất là thơ văn tả cảnh) của ta.

Chúng ta không loại trừ khả năng Tuý trước của Hàn Ác, hoặc đã bị sửa chữa, hoặc do một nguyên nhân nào đó đã trở thành Ngư nhàn của Không Lộ. Biết đâu, Đinh Gia Thuyết xưa kia vì muốn ca ngợi nhà sư có nhiều phép thuật màu nhiệm mà ông đã gọi là thánh tăng của quê hương Ninh Bình nên đã “xào sáo” bài thơ này và gán cho Không Lộ.

Mọi giả thuyết đều cần phải được xem xét kỹ lưỡng. Từ giả thuyết đến kết luận là một chặng đường dài. Nghiên cứu văn học sử là một công việc đầy chông gai. Chúng tôi mạnh dạn “đan giỏ giữa đường”, đề cập vấn đề này, kính mong các bậc cao tài bác nhã rộng lòng chỉ giáo.


Đỗ Phương Lâm

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 4/2002