舍弟觀赴藍田取妻子到江陵,喜寄其二

馬度秦關雪正深,
北來肌骨苦寒侵。
他鄉就我生春色,
故國移居見客心。
剩欲提攜如意舞,
喜多行坐白頭吟。
巡簷索共梅花笑,
冷蕊疏枝半不禁。

 

Xá đệ Quan phó Lam Điền thủ thê tử đáo Giang Lăng, hỉ ký kỳ 2

Mã độ Tần quan tuyết chính thâm,
Bắc lai cơ cốt khổ hàn xâm.
Tha hương tựu ngã sinh xuân sắc,
Cố quốc di cư kiến khách tâm.
Thặng dục đề huề như ý vũ,
Hỉ đa hành toạ bạch đầu ngâm.
Tuần thiềm tác cộng mai hoa tiếu,
Lãnh nhị sơ chi bán bất cầm.

 

Dịch nghĩa

Ngựa tới cửa ải xứ Tần đúng vào lúc tuyết rơi nhiều,
Từ phía bắc tới, bộ xương đói khổ vì thấm lạnh.
Quê người gặp lại ta, sẽ lấy lại vẻ tươi,
Bỏ làng cũ đi ở chỗ khác, thấy rõ lòng người khách lạ.
Lúc đó thảnh thơi múa cái gậy như ý,
Đứng ngồi vui lắm ngâm bài ca đầu bạc.
Đi ra hiên cứ cùng cười với hoa mai,
Dù cho nhị lạnh cành trơ một nửa cũng chẳng cần biết đến.

 


(Năm 767)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Non Tần giục ngựa tuyết đương sâu
Mới tới, da, xương chịu rét đau
Nước cũ em sang tình đáng cảm
Quê người anh thấy dạ quên sầu
Khuynh khoang muốn múa cây như ý
Ngồi đứng thường ngâm khúc bạch đầu
Nhị lạnh, cành thưa, mai có hiểu?
Lầu rèm cười nói một đôi câu

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Ngựa tới ải Tần lớp tuyết dầy,
Từ bắc thấm lạnh bộ xương gầy.
Quê người gặp lại, thêm tươi tắn,
Làng cũ xa rồi, thấy lạ thay.
Hồ hởi, "Bạc đầu ngâm" đi đứng,
Thảnh thơi, Như ý gậy cuồng quay.
Cười với hoa mai, bên thềm dạo,
Nhị lạnh, cành thưa cũng kệ mày.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời