將赴成都草堂途中有作,先寄嚴鄭公其五

錦官城西生事微,
烏皮幾在還思歸。
昔去為憂亂兵入,
今來已恐鄰人非。
側身天地更懷古,
回首風塵甘息機。
共說總戎雲鳥陣,
不妨遊子芰荷衣。

 

Tương phó Thành Đô thảo đường đồ trung hữu tác, tiên ký Nghiêm Trịnh công kỳ 5

Cẩm Quan thành tây sinh sự vi,
Ô bì kỷ tại hoàn tư quy.
Tích khứ vi ưu loạn binh nhập,
Kim lai dĩ khủng lân nhân phi.
Trắc thân thiên địa cánh hoài cổ,
Hồi thủ phong trần cam tức ky.
Cộng thuyết tổng nhung vân điểu trận,
Bất phương du tử kỵ hà y.

 

Dịch nghĩa

Phía tây Cẩm Quan thành cuộc sống eo hẹp,
Cái ghế cũ da đen vẫn còn nên cứ nghĩ đến trở về.
Xưa bỏ đi vì lo quân lính nổi loạn tràn vào,
Nay trở về lại ngại hàng xóm ghét bỏ.
Nghiêng mình coi trời đất nên luyến tiếc chuyện xưa,
Trong cảnh gió bụi quay đầu lại chịu nín hơi.
Cùng với vị chỉ huy bàn thế trận,
Chẳng hại gì tới kẻ long đong mặc áo cỏ gai.

 


(Năm 764)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Cửa nhà thành gấm kể mà chi
Nhớ ghế da đen phải tính về
Đi trước vì lo quân giặc tới
Lại giờ chỉ sợ láng giềng chê
Nghiêng mình trời đất, còn nhiều chuyện
Dạn mặt phong sương, chịu một bề
Quan tướng nghe đồn thao lược lắm
Khách du thôi chẳng ngại ngùng gì

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Tây thành Cẩm Quan, sống éo le,
Căn cơ vẫn giữ cứ mong về.
Xưa đi vì sợ loạn quân tới,
Nay lại những e hàng xóm chê.
Nghiêng mình, trời đất thường mơ cũ,
Quay mặt, bụi mù những nín khe.
Cùng với chỉ huy bàn chiến thuật,
Kẻ mặc áo lá nào hại chi!

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Tây Cẩm thành cuộc đời eo hẹp
Ghế da đen còn đẹp nên về
Xưa đi vì loạn tứ bề
Nay về ngại xóm làng chê đôi lời
Tiếc thủa xưa ngó trời đất rộng
Quay đầu cam bất động phong trần
Cùng quan bàn trận ung dung
Can chi tới kẻ phiêu bồng áo sen.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời