Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Vãn Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Đăng bởi Diệp Y Như vào 12/01/2011 01:36, số lượt xem: 925

念遠

日月淹秦甸,
江湖動越吟。
蒼梧應露下,
白閣自雲深。
皎皎非鸞扇,
翹翹失鳳簪。
床空鄂君被,
杵冷女嬃砧。
北思驚沙雁,
南情屬海禽。
關山已搖落,
天地共登臨。

 

Niệm viễn

Nhật nguyệt yêm Tần điện,
Giang hồ động Việt ngâm.
Thương Ngô ưng lộ há,
Bạch Các tự vân thâm.
Hạo hạo phi loan phiến,
Kiều kiều thất phụng trâm.
Sàng không Ngạc Quân bị,
Xử lãnh Nữ Tu châm.
Bắc tứ kinh sa nhạn,
Nam tình chúc hải cầm.
Quan sơn dĩ dao lạc,
Thiên địa cộng đăng lâm.

 

Dịch nghĩa

Ngày tháng lưu lạc nơi đất Tần,
Chốn sông hồ, động lòng ngâm tiếng đất Việt (nhớ quê).
Nơi Thương Ngô giờ này chắc sương rơi nhỉ?
Bạch Các mây che mờ.
Quạt loan lấp lánh nay không còn,
Trâm phụng xập xoè cũng mất.
Giường lạnh vắng, trơ chăn Ngạc Quân,
Thớt lạnh tê, chiếc chày giặt của Nữ Tu.
Nỗi nhớ phương bắc làm kinh hoảng đàn nhạn nơi bờ cát,
Mối tình phương Nam gởi cho chim biển.
Quan sơn đã tiêu điều xơ xác,
Trời đất như cũng theo vào.

 

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Quang Trường

Ngày tháng nơi đất khách,
Sông hồ động lòng quê.
Thương Ngô sương móc đẫm,
Bạch Các khói mây che.
Đâu quạt loan lấp lánh,
Nào trâm phượng xập xoè.
Chăn Ngạc Quân giường vắng,
Chày Nữ Tu lạnh tê.
Nỗi bắc kinh nhạn bãi,
Tình nam gởi chim thê.
Quan sơn đà hiu hắt,
Trời đất cũng theo về.

Nguồn: Lý Thương Ẩn - lan trong rừng vắng, Lê Quang Trường biên khảo, NXB Văn Nghệ, 2009.
Môn toả hoàng hôn,
Nguyệt tẩm mai hoa lãnh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Trung Hậu

Tháng ngày im ỉm Tần cung
Vẳng lời ca Việt động lòng nhớ quê
Sương ngô đồng, gác mây che
Rớt rơi trâm phụng, xập xoè quạt loan
Giường Ngạc Quân, chăn màn vắng ngắt
Thớt Nữ Tu, chày giặt lạnh tê
Nhạn trông ra Bắc buồn ghê
Nỗi lòng chim biển gửi về phương Nam
Hắt hiu này chốn quan san
Đất trời như cũng mang mang cận kề

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời