Chia sẻ trên Facebook Trang Thi Viện trên Facebook Chia sẻ trên Google+ Chia sẻ trên Twitter RSS feed
Dùng font cỡ nhỏ Dùng font cỡ vừa Dùng font cỡ lớn

Tào Thực - 曹植

Thơ » Trung Quốc


» Hiện danh sách 3 người yêu thích
» Hiện danh sách 1 bài viết liên quan tới tác giả Tào Thực trong Thư viện bài viết
‒ Ẩn tiểu sử tác giả
Tào Thực 曹植 (192-232), tự là Tử Kiến 子建, con thứ của Tào Tháo 曹操, em cùng mẹ với Tào Phi 曹丕. Lúc còn trẻ tuổi được cha yêu tài nên đời sống thong dong, sau Tào Tháo mất, Tào Phi tiếm vị Ngụy Văn Đế đến Minh Đế (Tào Duệ), Tào Thực bị nghi kỵ, không được tham gia vào triều chính, ôm tâm sự uất ức mà mất sớm.

Thơ của ông còn lưu lại khoảng chừng 80 bài, đa phần là thơ ngũ ngôn, lời lẽ văn hoa mỹ lệ, tình cảm dạt dào, khẳng khái. Ông là ngôi sao sáng chói nhất của nền văn học thời kỳ Kiến An.

[Gửi ngày 29/08/2005 00:58 bởi Vanachi, đã sửa 3 lần, lần cuối ngày 09/03/2007 15:42 bởi Vanachi, số lượt xem: 7316]

1. Đồng Tước đài phú23. Tạp thi kỳ 2
2. Bạch mã thiên24. Tạp thi kỳ 3
3. Danh đô thiên25. Tạp thi kỳ 4
4. Dã điền hoàng tước hành26. Tạp thi kỳ 5
5. Dự Chương hành kỳ 127. Tạp thi kỳ 6
6. Dự Chương hành kỳ 228. Tặng Đinh Dực
7. Giới lộ hành29. Tặng Đinh Nghi
8. Hỉ vũ thi30. Tặng Đinh Nghi, Vương Xán
9. Hu ta thiên31. Tặng Bạch Mã vương Bưu
10. Khí phụ thi32. Tặng Từ Cán
11. Không hầu dẫn33. Tặng Vương Xán
12. Khuê tình34. Tống Ưng thị kỳ 1
13. Lạc thần phú35. Tống Ưng thị kỳ 2
14. Ly hữu thi kỳ 136. Thái Sơn Lương Phủ hành
15. Ly hữu thi kỳ 237. Thất ai thi
16. Mỹ nữ thiên38. Thất đề - Du điểu tường cố sào
17. Ngôn chí39. Thất đề - Hoàng khảo kiến thế nghiệp
18. Phù dung trì40. Thất đề - Song hạc câu viễn du
19. Sóc phong thi41. Thất bộ thi
20. Tam lương thi42. Thị thái tử toạ
21. Tình thi43. Tiên nhân thiên
22. Tạp thi kỳ 1 



Trang trong tổng số 5 trang (43 bài thơ)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Thể thơ: Phú, thời kỳ: Tam Quốc
Từ khoá: đài Đồng Tước
Đã được xem 2945 lần
Đăng bởi Phụng vũ cửu thiên vào 18/10/2007 15:10
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 18/10/2007 16:47
1 người thích
2 bài trả lời
Thao tác

銅雀臺賦

Đồng Tước đài phú

Phú đài Đồng Tước (Người dịch: Tử Vi Lang)

從明後而嬉游兮,
登層臺以娛情。
見太府之廣開兮,
觀聖德之所營。
建高門之嵯峨兮,
浮雙闕乎太清。
立中天之華觀兮,
連飛閣乎西城。
...

Tòng minh hậu dĩ hì du hề,
Đăng tằng đài, dĩ ngu tình.
Kiến Thái phủ chi quảng khai hề.
Quan Thánh đức chi sở dinh
Kiến cao môn chi tha nga hề,
Phù song khuyết hồ Thái thanh.
Lập trung thiên chi hoa quan hề,
Liên phi các hồ Tây vực.
...

Noi đức sáng thánh quân rực rỡ,
Lên lầu đài hớn hở lòng xuân.
Xem công Thái Thú chăn dân,
Đức cao vời đã thấm nhuần nơi nơi.
Dựng lên giữa lừng trời xanh ngắt,
Đài nguy nga bát ngát không trung.
Mỹ quan nào kém non Bồng,
Gác cao, tây vực nhìn thông nẻo đoài.
...

» Xem toàn bộ bài thơ


Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 1014 lần
Đăng bởi Vanachi vào 26/11/2007 19:03
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 15/03/2009 01:07
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

白馬篇

Bạch mã thiên

Thiên về bạch mã (Người dịch: Điệp luyến hoa)

白馬飾金羈,
連翩西北馳。
借問誰家子,
幽并遊俠兒。
少小去鄉邑,
揚聲沙漠垂。
宿昔秉良弓,
楛矢何參差。
...

Bạch mã sức kim ky,
Liên phiên tây bắc trì.
Tá vấn thuỳ gia tử,
U Tinh du hiệp nhi.
Thiếu tiểu khứ hương ấp,
Dương thanh sa mạc thuỳ.
Túc tích bỉnh lương cung,
Hộ thỉ hà sâm si.
...

Bạch mã đeo cương vàng,
Lên tây bắc ruổi rong.
Hỏi con nhà ai thế,
Tráng sĩ đất U, Tinh?
Xa quê từ thuở nhỏ,
Vùng biên ải lẫy danh.
Sớm chiều đeo cung tốt,
Cùng tên hộ xếp bằng.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


Bài này còn có tên "Du hiệp thiên" 遊俠篇 (theo "Thái bình ngự lãm" 太平御覽), là một bài nhạc phủ, thuộc "Tạp khúc ca từ", nhưng không có lời cổ mà do Tào Thực tự sáng tác (tân đề nhạc phủ). Đây là một tác phẩm tiêu biểu cho những trước tác trong thời kỳ đầu của Tào Thực. Có ý kiến cho rằng bài này thể hiện chí hướng lập công báo quốc.

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 113 lần
Đăng bởi Vanachi vào 09/02/2014 23:00
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

名都篇

Danh đô thiên

Danh đô (Người dịch: Điệp luyến hoa)

名都多妖女,
京洛出少年。
寶劍直千金,
被服光且鮮。
鬥雞東郊道,
走馬長楸間。
馳驅未能半,
雙兔過我前。
...

Danh đô đa yêu nữ,
Kinh Lạc xuất thiếu niên.
Bảo kiếm trực thiên kim,
Bị phục quang thả tiên.
Đấu kê đông giao đạo,
Tẩu mã trường thu gian.
Trì khu vị năng bán,
Song thố quá ngã tiền.
...

Danh đô nhiều gái đẹp,
Thành Lạc lắm anh tài.
Bảo kiếm giá ngàn lượng,
Áo quần rạng sáng ngời.
Đông thành đấu gà chọi,
Đường thu ngựa chạy dài.
Ruổi rong chưa được nửa,
Trước mặt thỏ một đôi.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


"Danh đô thiên" là một bài tân đề nhạc phủ, thuộc "Tạp khúc ca từ", lấy hai chữ ở câu đầu làm tựa. Nội dung bài này được so sánh với thời kỳ niên thiếu của tác giả, cho thấy cuộc sống của một quý công tử.

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 586 lần
Đăng bởi Vanachi vào 12/09/2008 08:51
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

野田黃雀行

Dã điền hoàng tước hành

Bài hát về con chim sẻ vàng trên ruộng hoang (Người dịch: Điệp luyến hoa)

高樹多悲風,
海水揚其波。
利劍不在掌,
結交何須多!
不見籬間雀,
見鷂自投羅。
羅家見雀喜,
少年見雀悲。
...

Cao thụ đa bi phong,
Hải thuỷ dương kỳ ba
.
Lợi kiếm bất tại chưởng,
Kết giao hà tu đa!
Bất kiến ly gian tước,
Kiến diêu tự đầu la.
La gia kiến tước hỉ,
Thiếu niên kiến tước bi.
...

Cây cao nhiều gió thảm,
Biển rộng dễ ba đào.
Kiếm sắc tay không nắm.
Kết giao lại nhiều sao.
Không thấy sẻ trong giậu,
Trốn điêu mắc lưới giăng.
Chủ lưới mừng thấy sẻ,
Thiếu niên thấy sẻ thương.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


"Dã điền hoàng tước hành" là tên một điệu trong "Nhạc phủ thi tập" thuộc "Tương hoạ ca, Sắt điệu khúc". Bài này được làm khoảng năm Hoàng Sơ đầu (năm 220). Tào Thực và Tào Phi khi tranh đoạt kế thừa quyền vị đã lâu, mỗi bên đều có những thân tín nhất định làm vây cánh. Về sau Tào Thực đối với Tào Tháo bị thất sủng, nên thân tín nhiều người bị sát hại. Trước có Dương Tu 楊修 bị Tào Tháo giết. Sau khi Tào Phi tức vị, còn mượn mồm giết Đinh Nghi 丁儀, Đinh Dị 丁廙. Bài này phản ánh sự cảm thông của Tào Thực đối với những bằng hữu bị hại, trong khi mình lại bất lực, đồng thời cũng cho thấy thực chất sự tranh chấp quyền lực trong nội bộ tập đoàn thống trị Tào Nguỵ. Đoạn cuối bài nêu việc chim sẻ được giải thoát chỉ là sự ảo tưởng.

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 403 lần
Đăng bởi Vanachi vào 12/09/2008 07:39
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

豫章行其一

Dự Chương hành kỳ 1

Dự Chương hành kỳ 1 (Người dịch: Điệp luyến hoa)

窮達難豫圖,
禍福信亦然。
虞舜不逢堯,
耕耘處中田。
太公未遭文,
漁釣終渭川。
不見魯孔丘,
窮困陳蔡間。
...

Cùng đạt nan dự đồ,
Hoạ phúc tín diệc nhiên.
Ngu Thuấn bất phùng Nghiêu,
Canh vân xứ trung điền.

Thái Công vị tao Văn,
Ngư điếu chung Vị xuyên.

Bất kiến Lỗ Khổng Khâu,
Cùng khốn Trần Sái gian.

...

Cùng đạt khó đoán lường,
Hoạ phúc chẳng thể tin.
Ngu Thuấn chưa gặp Nghiêu,
Cày cấy nơi ruộng điền.
Thái Công chưa gặp Văn,
Câu cá ở Vị Xuyên.
Chưa thấy Lỗ Khổng Khâu,
Trần Sái chịu cảnh giam.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


"Dự Chương hành" là nhạc phủ cựu đề, thuộc "Tương hoạ ca từ". Cổ từ có "Bạch dương thiên" 白楊篇 mượn gốc bạch dương ở núi Dự Chương, thân ở tại cung Lạc Dương viết lời cảm khái. "Nhạc phủ giải đề" nói hai bài "Dự Chương hành" của Tào Thực là phỏng theo "Bạch dương thiên" mà viết. Dự Chương là tên đất nay thuộc Nam Xương.

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 73 lần
Đăng bởi Vanachi vào 13/02/2014 22:33
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

豫章行其二

Dự Chương hành kỳ 2

Dự Chương hành kỳ 2 (Người dịch: Điệp luyến hoa)

鴛鴦自朋親,
不若比翼連。
他人雖同盟,
骨肉天性然。
周公穆康叔,
管蔡則流言。
子臧讓千乘,
季札慕其賢。

Uyên ương tự bằng thân,
Bất nhược tỷ dực liên.
Tha nhân tuy đồng minh,
Cốt nhục thiên tính nhiên.
Chu Công mục Khang Thúc,
Quản, Sái tắc lưu ngôn.
Tử Tang nhượng thiên thặng,
Quý Trát mộ kỳ hiền.

Uyên ương dù thân thiết,
Nào như cánh chắp đôi.
Người dưng tuy cùng hội,
Cốt nhục sẵn tính trời.
Chu Công, Khang Thúc thuận,
Quản, Sái há kiêng lời.
Tử Tang nhường ngàn cỗ,
Quý Trát mến hiền tài.

» Hiện dịch nghĩa



Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 121 lần
Đăng bởi Vanachi vào 13/02/2014 20:47
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

薤露行

Giới lộ hành

Bài ca sương trên lá hẹ (Người dịch: Điệp luyến hoa)

天地無窮極,
陰陽轉相因。
人居一世間,
忽若風吹塵。
願得展功勤,
輸力於明君。
懷此王佐才,
慷慨獨不群。
...

Thiên địa vô cùng cực,
Âm dương chuyển tương nhân.
Nhân cư nhất thế gian,
Hốt nhược phong xuy trần.

Nguyện đắc triển công cần,
Thâu lực ư minh quân.
Hoài thử vương tá tài,
Khảng khái độc bất quần.
...

Trời đất vô cùng cực,
Âm dương mãi đổi thay.
Người sống trong trời đất,
Gấp như bụi gió bay.
Nguyện lập công kiến nghiệp,
Tận lực trổ hết tài.
Dốc sức mình giúp chúa,
So bì há có ai.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


Bài này ý nói đời người ngắn ngủi, muốn trổ hết tài cán kiến nghiệp lập công, noi theo Khổng Tử viết sách lưu danh lại cho đời sau. Về đề mục, xem bài "Giới lộ hành" của Tào Tháo.

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 628 lần
Đăng bởi Vanachi vào 29/08/2005 01:57
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 28/05/2006 06:27
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

喜雨詩

Hỉ vũ thi

Thơ mừng mưa (Người dịch: Điệp luyến hoa)

天覆何彌廣,
苞育此群生。
棄之必憔悴,
惠之則滋榮。
慶雲從北來,
郁述西南征。
時雨中夜降,
長雷周我庭。
...

Thiên phúc hà my quảng,
Bao dục thử quần sinh.
Khí chi tất tiều tuỵ,
Huệ chi tắc tư vinh.
Khánh vân tòng bắc lai,
Uất thuật tây nam chinh.
Thời vũ trung dạ giáng,
Trường lôi chu ngã đình.
...

Trời bao trùm rộng khắp,
Nuôi dưỡng hết mọi loài.
Ruồng bỏ ắt tiều tuỵ,
Ân lộc hẳn tốt tươi.
Mây lành từ bắc lại,
Cuộn về tây nam bay.
Mưa kịp thời đêm trút,
Quanh sân sấm vọng dài.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


Năm Thái Hoà thứ 2 (228) đại hạn, dân tình đói khổ, Tào Thực viết bài này tại Ung Châu, qua đó ký thác việc mong mỏi được Nguỵ Minh Đế Tào Duệ 曹叡 vô tư như trời mưa mà lại dùng tới mình.

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 628 lần
Đăng bởi Vanachi vào 14/11/2007 16:43
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

吁嗟篇

Hu ta thiên

Thiên tự than thân (Người dịch: Điệp luyến hoa)

吁嗟此轉蓬,
居世何獨然。
長去本根逝,
宿夜無休閑。
東西經七陌,
南北越九阡。
卒遇回風起,
吹我入雲間。
...

Hu ta thử chuyển bồng,
Cư thế hà độc nhiên.
Trường khứ bản căn thệ,
Túc dạ vô hưu nhàn.
Đông tây kinh thất mạch,
Nam bắc việt cửu thiên.

Tốt ngộ hồi phong khởi,
Xuy ngã nhập vân gian.
...

Thương thân ta phiêu bạc,
Cô độc trên đời này.
Rời bỏ nơi gốc gác,
Đâu thảnh thơi một ngày.
Vượt chín đường nam bắc,
Qua bảy lối đông tây.
Bỗng trận cuồng phong nổi,
Cuốn ta tới tận mây.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


Đây là một bài nhạc phủ, thuộc "Tương hoạ ca từ". Theo "Nhạc phủ giải đề", Tào Thực phỏng "Khổ hàn hành" 苦寒行 mà sáng tác. Bài này của Tào Thực tỏ ý trách bị Văn Đế Tào Phi bức hại, trước sau trong hơn 10 năm bị đổi đất phong liên tục, có lẽ được sáng tác vào năm Thái Hoà thứ 3 (229) đời Nguỵ Minh Đế sau khi Tào Thực được phong làm Đông A vương. Hai câu cuối ý nói chết dù đau đớn nhưng chỉ mong vẫn còn được gần với tổ tiên (loài cỏ, cây mẹ sinh ra cây con rễ nối liền với nhau).

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Tam Quốc
Đã được xem 119 lần
Đăng bởi Vanachi vào 07/02/2014 19:57
Chưa ai thích
1 bài trả lời
Thao tác

棄婦詩

Khí phụ thi

Thơ về người vợ bị bỏ (Người dịch: Điệp luyến hoa)

石榴植前庭,
綠葉搖縹青。
丹華灼烈烈,
璀采有光榮。
光榮曄流離,
可以處淑靈。
有鳥飛來集,
拊翼以悲鳴。
...

Thạch lựu thực tiền đình,
Lục diệp dao phiêu thanh.
Đan hoa chước liệt liệt,
Thôi thái hữu quang vinh.
Quang vinh diệp lưu ly,
Khả dĩ xử thục linh.
Hữu điểu phi lai tập,
Phụ dực dĩ bi minh.
...

Thạch lựu trồng sân trước,
Phe phẩy lá tươi xanh.
Hoa đỏ màu như lửa,
Rực rỡ ánh lung linh.
Lung linh như sắc ngọc,
Nơi trú ngụ loài thiêng.
Có chim bay tới đậu,
Vỗ cánh hót bi thương.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


Bài thơ này được chép trong "Ngọc đài tân vịnh" và "Thái bình ngự lãm". "Nhạc phủ thi tập" và tập thơ riêng của tác giả không thấy chép. Tào Thực thay lời người vợ của Bình lỗ tướng quân Lưu Huân 劉勳 là Vương Tống 王宋 vào cuối năm Kiến An vì không có con nên bị đuổi mà viết. Ngoài bài này, Tào Thực và Vương Xán 王粲 còn có bài "Xuất phụ phú" 出婦賦, Tào Phi cũng có hai bài "Đại Lưu Huân xuất thê Vương thị tác" 代劉勳出妻王氏作.

Trang trong tổng số 5 trang (43 bài thơ)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối





© 2004-2014 Vanachi