Bình luận nhanh 2

Minh Chu20/02/2020 10:21
Đinh Nhật Thận(1815-1866), tự Tự Úy, hiệu Bạch Mao Am, quê Thanh Tiên, Thanh Chương, Nghệ An đỗ tiến sĩ 1838, Tri phủ Anh Sơn, Nghệ An, cương trực nên bị cách chức rồi phục chức 1853, nhưng cáo bệnh ở…
Minh Chu20/02/2020 10:21
Đêm thu khách đường nhớ ngâm Dịch Tặng anh ĐQT và họ tộc Đinh. Thu tối lặng trời lờ mờ sáng, Cách rào thưa cất chén gượng khuây. Trời thời người việc giao bài, Phù sinh mộng có mấy…
35.00
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Song thất lục bát
Thời kỳ: Nguyễn
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Từ khoá: mùa thu (378) nhớ nhà (41) tha hương (95)

Đăng bởi Vanachi vào 19/09/2014 05:28

秋夜旅懷吟

秋夜靜天光隱約
隔疏簾淡酌金罍
天時人事相催
浮生若夢幾回為歡

人對景花間月照
景撩人樹梢風吹
這般料少人知
閒來風月與誰為秋

詩四絕怡愉雅愛
酒三杯瀟洒離懷
燈前獨對書齋
傷心客地有懷古人

香水外忽聞漁韻
從何來棹進江邊
徘徊月夜霜天
寒山暗認客船更非

曲江水何時大杜
一孤舟繫故園心
時留八首詩吟
令人旅思轉深鄉情

昔我往青青柳絮
兩三聲初語黃鶯
而今菊已含英
柳陰庭外寒鳴秋蟬

昔我去翻翻桃臉
兩三枝初占東風
而今蘭已成叢
桃夭軒外落從寒霜

胡為乎凄涼客舍
日優遊幾個冠童
安能夜夜書房
芭蕉泣露昆虫鳴秋

胡為乎怡愉旅館
歲逡巡已半霜煙
安能暮暮書軒
風搖庭竹月懸屋梁

不是做何郎投筆
將忠肝為國從軍
此身空冒風塵
坐中虛視寢時徒聞

不是做何人捧檄
將孝心離戚從官
他鄉何事盤桓
白雲飛處牡丹開時

今日自海濱遠顧
一輕帆直渡歸陵
鄉魂沸沸如甑
逐帆忽已破層層波

明日自山家遠眺
片孤雲帶曉浮空
鄉心裊裊如蓬
隨雲忽已過重重山

何日是鄉關雁信
悠悠難寫盡心情
夜聞妙諦鍾聲
海門鼓響御城炮催

江曲曲腸迴曲曲
景悠悠夜復悠悠
蕭條館旅亭秋
鄰家樁楮江頭棹聲

嗟客地吁縈心事
嘆閨人情緒可憐
更深燈滅案前
含情掩扇空懸月明

孤枕裡三更寤寐
片幽懷誰是為憐
情頭夜半無人
睡來報蝶醒辰鳴雞

有時或鄉閨夕炤
下堂來欲造花樓
忽驚燕葺泥巢
鸞羞炤鏡鳳愁懶梳

有時或織機夜靜
呼童來初整燈明
忽聞雁渡江聲
机慵足踏梭停手拋

可憐夜焚膏達旦
夜沉沉不見佳音
擲梭望望庭陰
霜寒蟋蟀咱吟聲愁

望不見悠悠我獨
顧閨門載復言還
咱家雞唱西欄
含情倚几挑殘孤燈

可憐日燈庭自早
日斜斜不到回書
挈衣步步康衢
蟬鳴楊柳帶愁眉看

望不見翻翻我獨
顧琴軒強欲為情
忽瞻蝶戲蘭屏
含棲穿屩復行西園

今必謂秋天靜好
我良人將到歸期
遑知世路蹺蹊
關山千里未期曷來

今必謂我離永久
自長安或抱衾裯
風情慣似風流
繁花矧又皇州帝城

苟非有人情者也
胡而春而夏而秋
由來紫閣紅樓
英雄不住丈夫難持

如此者誰知之者
煙波中使我心愁
昂藏豈少年遊
風流舊態江湖故家

旅景每從哦裡痛
鄉魂空向夢中遊
江山客亦知乎
情中更切路途艱難

雖曰已藻蘋婦事
內齊家上祀祖先
澗毛潢水微虔
安知主饋能賢婦人

可知者十分家幼
一門中共保無危
別時正在孩兒
年來想已髮垂牙生

可愛者其兄之子
年十三十四中來
吾兄亦曰幸哉
底今未覺誰開學堂

可思者同窗二契
芝蘭香細細猶聞
馬杯自挹輕塵
渭城此後故人亦辭

不知後北圻起匪
二吾兄已未回辰
嗟哉同病相憐
一瀟湘一向秦一方

將何日更相對語
敘閨情又敘客衷
而今秋月秋風
秋吟秋飲情中者誰

對離景淚垂雙眼
顧香關路限重山
酒殘獨倚欄杆
覺來眼看夜還淒涼

 

Thu dạ lữ hoài ngâm

Thu dạ tĩnh thiên quang ẩn ước
Cách sơ liêm đạm chước kim lôi
Thiên thời nhân sự tương thôi
Phù sinh nhược mộng kỷ hồi vi hoan

Nhân đối cảnh hoa gian nguyệt chiếu
Cảnh liêu nhân thụ tiêu phong xuy
Giá ban liệu thiểu nhân tri
Nhàn lai phong nguyệt dữ thuỳ vi thu

Thi tứ tuyệt di du nhã ái
Tửu tam bôi tiêu sái ly hoài
Đăng tiền độc đối thư trai
Thương tâm khách địa hữu hoài cổ nhân

Hương thuỷ ngoại hốt văn ngư vận
Tòng hà lai trạo tiến giang biên
Bồi hồi nguyệt dạ sương thiên
Hàn sơn ám nhận khách thuyền cánh phi

Khúc giang thuỷ hà thì Đại Đỗ
Nhất cô chu hệ cố viên tâm
Thời lưu bát thủ thi ngâm
Linh nhân lữ tứ chuyển thâm hương tình

Tích ngã vãng thanh thanh liễu nhứ
Lưỡng tam thanh sơ ngữ hoàng oanh
Nhi kim cúc dĩ hàm anh
Liễu âm đình ngoại hàn minh thu thuyền

Tích ngã khứ phiên phiên đào kiểm
Lưỡng tam chi sơ chiếm đông phong
Nhi kim lan dĩ thành tùng
Đào yêu hiên ngoại lạc tùng hàn sương

Hồ vi hồ thê lương khách xá
Nhật ưu du kỷ cá quan đồng
An năng dạ dạ thư phòng
Ba tiêu khấp lộ côn trùng minh thu

Hồ vi hồ di du lữ quán
Tuế thuân tuần dĩ bán sương yên
An năng mộ mộ thư hiên
Phong dao đình trúc nguyệt huyền ốc lương

Bất thị tố hà lang đầu bút
Tương trung can vị quốc tòng quân
Thử thân không mạo phong trần
Toạ trung hư thị tẩm thì đồ văn

Bất thị tố hà nhân phủng hịch
Tương hiếu tâm ly thích tòng quan
Tha hương hà sự bàn hoàn
Bạch vân phi xứ mẫu đơn khai thì

Kim nhật tự hải tân viễn cố
Nhất khinh phàm trực độ quy lăng
Hương hồn phí phí như tăng
Trục phàm hốt dĩ phá tằng tằng ba

Minh nhật tự sơn gia viễn diểu
Phiến cô vân đới hiểu phù không
Hương tâm niểu niểu như bồng
Tuỳ vân hốt dĩ quá trùng trùng san

Hà nhật thị hương quan nhạn tín
Du du nan tả tận tâm tình
Dạ văn Diệu Đế chung thanh
Hải môn cổ hưởng ngự thành pháo thôi

Giang khúc khúc trường hồi khúc khúc
Cảnh du du dạ phục du du
Tiêu điều quán lữ đình thu
Lân gia thung chử giang đầu trạo thanh

Ta khách địa hu oanh tâm sự
Thán khuê nhân tình tự khả liên
Canh thâm đăng diệt án tiền
Hàm tình yểm phiến không huyền nguyệt minh

Cô chẩm lý tam canh ngụ mị
Phiến u hoài thuỳ thị vi lân
Tình đầu dạ bán vô nhân
Thuỵ lai báo điệp tỉnh thần minh kê

Hữu thì hoặc hương khuê tịch chiếu
Hạ đường lai dục tháo hoa lâu
Hốt kinh yến tập nê sào
Loan tu chiếu kính phụng sầu lãn sơ

Hữu thì hoặc chức cơ dạ tĩnh
Hô đồng lai sơ chỉnh đăng minh
Hốt văn nhạn độ giang thanh
Cơ dung túc đạp thoa đình thủ phao

Khả lân dạ phần cao đạt đán
Dạ trầm trầm bất kiến giai âm
Trịch thoa vọng vọng đình âm
Sương hàn tất suất thính ngâm thanh sầu

Vọng bất kiến du du ngã độc
Cố khuê môn tải phục ngôn hoàn
Thính gia kê xướng tây lan
Hàm tình ỷ kỷ khiêu tàn cô đăng

Khả lân nhật đăng đình tự tảo
Nhật tà tà bất đáo hồi thư
Khiết y bộ bộ khang cù
Thuyền minh dương liễu đới sầu mi khan

Vọng bất kiến phiên phiên ngã độc
Cố cầm hiên cưỡng dục vi tình
Hốt chiêm điệp hý lan bình
Hàm thê xuyên cược phục hành tây viên

Kim tất vị thu thiên tĩnh hảo
Ngã lương nhân tương đáo quy kỳ
Hoàng tri thế lộ nghiêu hề
Quan san thiên lý vị kỳ hạt lai

Kim tất vị ngã ly vĩnh cửu
Tự Trường An hoặc bão khâm trù
Phong tình quán tự phong lưu
Phồn hoa thẩn hựu hoàng châu đế thành

Cẩu phi hữu nhân tình giả dã
Hồ nhi xuân nhi hạ nhi thâu (thu)
Do lai tử các hồng lâu
Anh hùng bất trụ trượng phu nan trì

Như thử giả thuỳ tri chi giả
Yên ba trung sử ngã tâm sầu
Ngang tàng khởi thiếu niên du
Phong lưu cựu thái giang hồ cố gia

Lữ cảnh mỗi tòng nga lý thống
Hương hồn không hướng mộng trung du
Giang sơn khách diệc tri hồ
Tình trung cánh thiết lộ đồ gian nan

Tuy viết dĩ tảo tần phụ sự
Nội tề gia thượng tự tổ tiên
Giản mao hoàng thuỷ vi kiền
An tri chủ quỹ năng hiền phụ nhân

Khả tri giả thập phần gia ấu
Nhất môn trung cộng bảo vô nguy
Biệt thì chính tại hài nhi
Niên lai tưởng dĩ phát thuỳ nha sinh

Khả ái giả kỳ huynh chi tử
Niên thập tam thập tứ trung lai
Ngô huynh diệc viết hạnh tai
Để kim vị giác thuỳ khai học đường

Khả tư giả đồng song nhị khế
Chi lan hương tế tế do văn
Mã bôi tự ấp khinh trần
Vị Thành thử hậu cố nhân diệc từ

Bất tri hậu Bắc kỳ khởi phỉ
Nhị ngô huynh dĩ vị hồi thần
Ta tai đồng bệnh tương lân
Nhất Tiêu tương nhất hướng Tần nhất phương

Tương hà nhật cánh tương đối ngữ
Tự khuê tình hựu tự khách trung
Nhi kim thu nguyệt thu phong
Thu ngâm thu ẩm tình trung giả thuỳ

Đối ly cảnh lệ thuỳ song nhãn
Cố hương quan lộ hạn trùng san
Tửu tàn độc ỷ lan can
Giác lai nhãn khán dạ hoàn thê lương


Sách Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên và Thu dạ lữ hoài ngâm của Georges Cordier (Nhà in Kim Đức Giang, Hà Nội, 1925) ghi tác giả bài này là Ngô Điền, người Nam Định, thi đậu Hoàng giáp đời vua Tự Đức, trước làm quan trong nội các, sau thuyện đi nhậm ở một tỉnh xa xôi, lâu không được về quê nên có viết khúc này để than thở niềm tư gia ở nơi đất khách.

Sách Khảo sát về thơ Đinh Nhật Thận qua Thu dạ lữ hoài ngâm của Nguyễn Tài Chất và Nguyễn Tài Cẩn (Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản, 2008) ghi tác giả là Đinh Nhật Thận. Bản này dựa trên bản chép tay do người cháu đích tôn của Đinh Nhật Thận tặng lại cho ông Nguyễn Tài Chất, và đã được đối chiếu với các bản của Trường Thịnh Đường (in mộc bản năm 1902) và bản Nguyễn Văn Đề công bố trong cuốn Trong 99 chóp núi (do Hà Xuân Tề đề tựa ngày 4-7-1941) tại Huế. Theo đó, Đinh Nhật Thận làm bài này trong thời gian bị triều đình bắt giữ cho rằng ông liên luỵ với khởi nghĩa của Cao Bá Quát tỏ nỗi lòng nhớ quê nhà.

[Thông tin 4 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Nhật Thận

Bài dịch có 3 dị bản, hãy chọn bản muốn xem:

1 Bản in trong Khảo sát về thơ Đinh Nhật Thận qua “Thu dạ lữ hoài ngâm” (Nguyễn Tài Chất và Nguyễn Tài Cẩn, Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản, 2008)

2 Bản in trong Văn đàn bảo giám (Trần Trung Viên, NXB Văn học, 2004)

3 Thu dạ lữ hoài ngâm (Georges Cordier, Nhà in Kim Đức Giang, Hà Nội, 1925)

Đêm thu lặng, bóng giờitrăng thấp thoáng,
Cách rèm thưa chuốcrót chén gượng nguôi.
“Thiên thời nhân sự tương thôi”,
Kiếp chiêm bao dễ mấy hồi người ta?
kim bôilôi.
Gẫm xem thời sự sụt sùi,
Cõi phù mấy thuở làm vui chovới đời.


Người đốingắm cảnh, trước hoa trăng tỏtrăng soi hoa nở,
Cảnh trêu người, ngọn gió rung cây.
Nỗi niềm aimấy kẻ tỏ hay?
Cùng ai trăng gió đêm này vớingày vớingày thưởng thu.

Thơ nhã ái bốn câu buôngba vận,
Rượu ly hoài bavài chén làm khuây.
Trước đèn trong chốn thư trai,
Chạnh lòng đất khách, nhớ người đờingậm ngùi người xưa.

Ngoài Hương thuỷ tiếng ngư văng vẳng,
Thuyền từ đâu chèo thẳng biên giangdươnggiương?
Lờ mờBồi hồi đêm nguyệt trời sương,
Thuyền ai tưởng khách non Hàn, lại không!Non hàn thuyền khách trông nhườngchừng như bay.

Khúc ngư thuỷ nhớ ông Đại Đỗ,
Buộc con thuyền lòng cũ bơ vơ.
HứngMấy thu để tám bài thơ,
Xui người đất khách ngẩn ngơ tình làng.

XưaKhi ta đi liễu đang thanh tếxanh tốt,
Chim hoàng anh mới kểhót ba câu.
Bằng nay cúc đã hoangậm thâu,
Liễu kia cũng nghĩ âu sầu vì ve.

Khi ta đi đào khoe tiếu kiểm,
GióNgọn đông phong mới điểm ba hàng.
Bằng nay lan đã chồirỏ sương,
Đào non nghĩ cũng võ vàng vì thu.

Làm chi vậy buồn rầu đất khách,
Ngày quánNhật quán đồng mượn thích làm khuây.
Có đêm nương bóng hồigối phòng tây,
Tiếng sươngBa tiêu khóc lệ, hơi bay gọimay ngâmbay ngâm trùng.

Làm chi vậy lạnh lùngdở danggiở giương quán lữ,
Năm, sương yên hết nửa đikế nửa vừakể nửa vừa rồi.
đêmkhi ngồi nhẫn thư trai,
Gió lay bên trúc, nguyệt cài trên lương.

Nào có phải như chàng ném bút,
Vì vua mà đồng mácbác cho cam.
Luống đem thân thế cát lầm,
Thấy ngồi hổ mắtmặt, nghe nằm thẹn tai.

Nào có phải như ai vâng hịch,
Vì thân mà xa cách cho xong.
Bỗng không cách địa binh bồng,
Trông mây lại nhớ, xem bông lại buồnphiền.

Ngày nay đứng trông miền bể rộng,
Một cánh buồm gióng thẳng về cồnthẳng gióng Giang Lănggióng thẳng Giang Lăng.
Lòng quê đâu đã cuồn cuồnđâu đã bâng khuângluống những bâng khuâng,
Phút theo buồm vượt máy ngàn sóngnhẹ tếch chừng bể khơi.

Ngày nay đứng trông nơi non thẳm,
Một làn mây sớm ngắm trên không.
Lòng quê đâu đã bồng bồngrối bongrối bồng,
Phút theo mây kéo mấy trùng non xa.

Trông tin nhạn biết là đâu tá,
Tâm tình này ai tả cho nên.
Chuông chùa Diệu Đế chokhua rền,
Trống vang cửa bể, súng rênran thành vàng.

Sông quạnh quẽ ruột càng quằn quạiLòng quanh quéo sông càng quanh quéoLòng quạnh quẽ sông càng cạnh quẽ,
Cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu.
Lữ du ai chẳng tiêu điều,
Tiếng chày trong xóm tiếng chèo ngoài sông.

ThanThân đất khách não nùnglòng tâm sự,
Thương người quê tình tự bây giờ.
Đèn khuya cơn tỏ cơn mờ,
GẫmNgậm tình che quạt luống chờ bóng trăng.

Năm canh những mơ màngmòng trên gối,
Mảnh tình riêng biết nói cùng ai.
Thương thay đêm vắng khôngim người,
Ngủ thời bướm báo, dậy thờimơ giấc bướm, tỉnh rồi gà kêu.

Hoặc có lúc ban chiều trong khổn,
Bước xuống thềm lại muốn lên lầu.
Phút nghe con én kêu sầu,
Lược rầu tóc chải, gương rầu mặt soi.

Hoặc có lúc đưagieo thoi đêm tối,
Gọi con đồng vừa tớimới điểm đăng.
Phút nghe tiếng nhạn khơi chừng,
Máy rời chân đạp, thoi ngừngdừng tay đưa.

Thương thay có đêm chờ nửa gối,
Đêm gần qua chẳng thấy thư về.
Gác thoi ra đứng bên hè,
Tai nghe tiếngcon dế rè rèrù rì khóc sương.

Trông chẳng thấy, chán chường than thở,
Đoái phòng khuê muốn trở gót giầy.
Gà ai eo óc hồi tây,
Gẫm tình tựa gối liền tay khêu đèn.

Thương thay có ngày nhìn sáu khắcnhững ngóng tin sớm ấy,
Ngày gần tànhôm chẳng thấy thư sangvề.
Xuống thềm ra đứng bên đàngBỏ xiêm lững thững bên hè,
Mày sầu khóm liễu hàng hàngdì dì khóc ve.

Trông chẳng thấy lại về đứng đợi,
Đoài cầm hiên taymuốn gợi ngóntay đàn.
Bướm đâu trêu cợt bình lơn,
Buồn tình mangthôi xỏ dép ra vườn háibẻ hoa.

Rày hẳn bảo giời đà mát mẻ,
Lương nhân ta có dễ gần về.
Biết đâu đường thế nhiêu khêđường thế khắt kheđường sá khắt khe,
Dặm ngàn hồ dễ đi về cho năng.

RàyNay hẳn nói mìnhbảo ta chừng lâu ở,
Ôm khâm trù hay đã có người.
Phong lưu vốntính đã quen rồi,
Phồn hoa lịch sự lại mùingười Tràng An.

Nếu chẳng thể bàn hoàn chi mãi,
Hết xuân rồi hạ lại sang thu.
Lầu hồng cung cấm ấy ru,
Anh hùng lại vớikia mấy trượng phu ai từ?

Như thế ấy bây giờ ai biết,
Trông yên bahoa khôn xiết dạ sâu.
Há còn traituổi trẻ chi đâu,
Phong lưu thóitính cũ giang hồ lốithờithói xưa.

Cảnh du lữ câu thơ thổn thức,
Bóng hương quan trước mắt mơ màng.
Non sông khách có biết chăng,
Vẫn tình thì nhớ nhưng đường thì khơi.
khuê xa khuất dặm trườngnghìn.
Giang hồ dù có biết thương,
Thiết tình lại nhớ những đường dặmrậm khơi.


Tuy rằng nói đã người tần tảo,
Trên tôn đường trọng đạo tề gia.
Rau khe nước suối cũng là,
Mình xa chẳng biết ở nhà làm sao.

DuyMừng cho trẻ đứa nào đứa ấy,
Trong gia đìnhGia đình thời đều thấy yên vui.
Lúc đi trẻ mới hay cười,
Tóc răng nay đã ra người lớn khôn.

Và thằng cháu giời thươngnhờ ơnnhờ giời cũng khá,
Tuổi năm nay chừng đã trưởng thành.
Phúc nhà mừng trộmhộ cho anh,
Năm nay biết đãđã cóbiết có học hành cùng ai.

Bạn đèn sách một hai tri thứckỷ,
Mùi lan chi sựcthơmthêm nức một nhà.
Từ phen chuốc chénchén rượu quan hà,
Vị Thành lúc ấy rồi mà Dương Quan.

Sau chẳng biết ngoài miền bắc động,
Hai anh ta có chóng hồi hươngtrangchăng?
Thương ôi đồngMới hay đồngMới hay cùng bệnh cùngthêm thương,
MộtKẻ Tần lại mộtngười lại Tiêu Tương một giời.

Đến bao giờ cùng ngồi kể chuyện,
Kể hương tình cho đến khách trung.
Bằng nay nào nguyệt nào phong,
Nào thi nào tửu biết cùng ai hay.

SầuCảnh ly biệt tuônlệ đầy hainước mắt,
Bóng hương quankhuê xa khuấtcách dặm ngàn.
Rượu rồi ngồi dựa lan cancâu lơn,
Chiêm bao tỉnhthấy giấc đêmcanh tàn về thu.


[Thông tin 3 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
25.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Đề

Đêm thu lặng trời thu trong suốt,
Cách rèm thưa, lặng rót chén vàng.
Cơ trời, việc thế đa đoan,
Kiếp phù mấy thuở bày tuồng làm vui.

Người đối cảnh hoa cười bóng nguyệt,
Cảnh trêu người, gió nguýt ngọc cây.
Dường này dễ mấy ai hay?
Cùng ai với gió trăng này làm thân?

Thơ khiển hứng hạ vần nhã ái,
Rượu tiêu sầu lưng túi ly hoài.
Một đèn riêng một thư trai,
Nhớ thân muôn dặm thương người nghìn thu.

Ngoài bến nọ, tiếng ngư vang dội,
Thuyền đậu chèo dọc mãi sông Hương.
Mơ màng đêm nguyệt trời sương,
Non Hàn tưởng khách thơ Đường là ai!

Trên sông Khúc nào hồn Tử Mỹ,
Chiếc bè trôi, chạnh ý ly hương?
Cảm thu truyền lại tám chương,
Khéo xui lòng khách dễ vương tình lòng?

Khi ta đi liễu đang xanh tốt,
Một vài câu vừa hót chim oanh.
Mà nay cúc nở vang cành,
Liễu kia, ve khóc buồn tanh ngõ ngoài.

Xưa ta đi, đào cười nhí nhoẻn,
Một đôi cành vừa bén gió đông,
Mà nay lan rợp như rừng,
Đào theo sương rụng lung tung phía ngoài.

Làm chi vậy lẻ loi quán trọ,
Ngày ba thằng măng sữa nghêu ngao.
Đêm đêm án sách gục vào,
Lá thân sương nặng, dế kêu thu buồn.

Làm chi vậy gầy mòn điếm lữ?
Chốc nửa năm sương gió lân la,
Đêm đêm hiên vắng nhìn ra,
Gió lay ngọn trúc, trăng sa mái hồi.

Nào có phải như ai vì nước,
Vứt bút mà đòng mác cho cam.
Khi không rước lấy cát lầm,
Hổ ngồi giương mắt, thẹn nằm nghiêng tai!

Nào có phải như ai vì hiếu,
Vâng hịch mà bôn tẩu chẳng nài!
Việc gì lần lữa quê người?
Mây che núi cũ, hoa cười thôn cô

Rày đứng ngóng trên bờ trên biển
Lá buồm ai về bến thẳng giong.
Lòng quê sôi nổi như nung,
Phút theo buồm vượt mấy trùng phong ba.

Mai đứng ngóng nhà kia trên núi,
Làn mây cô trôi nổi bềnh bồng.
Lòng quê rối tựa bòng bong,
Phút theo mây kéo mấy trùng quan san.

Phương nào tá tin nhàn núi cũ?
Bút mực đâu tả đủ niềm đơn?
Bên chùa Diệu Đế chuông dồn,
Trên thành súng nổ, dưới đồn trống vang.

Sông quằn quặn, ruột càng quằn quặn.
Cảnh rầu rầu, dạ vẫn rầu rầu.
Lạnh lùng đất khách trời thâu,
Kìa! ai giã gạo? Ờ! đâu khua chèo?

Ngoài nghìn dặm rối meo tâm sự,
Chốn phòng khuê vò võ thương ai!
Canh khuya che quạt lặng ngồi,
Mặc đèn lu ngọn, kệ trời sáng trăng!

Trên gối chiếc đêm tràng tráo trở,
Mảnh tình riêng than thở cùng ai?
Đã khuya trông chửa thấy người,
Ngủ mơ màng bướm, dậy oi óc gà.

Hoặc có lúc trước nhà bóng đổ,
Bước xuống thềm lại trở lên lên lầu.
Phút trông én ngậm bùn đâu.
Phượng buồn bã lược, loan rầu rĩ gương.

Hoặc có lúc trong buồng đêm vắng,
Gọi khêu đèn, hòng gắng dệt khuya,
Bỗng nghe nhạn vượt sông kia,
Ác buông trôi máy, én lìa ngưng thoi.

Thương thay có đêm ngồi suốt sáng,
Đợi cả đêm, thư chẳng thấy nao!
Vứt thoi ra ngóng trước lầu,
Dế than sương lạnh rót sầu vào tai!

Chẳng thấy ai, riêng càng tức tối,
Đành ôm lòng trở lại buồng thêu.
Nhà bên gà đã gáy vèo,
Nghĩ đâu dựa ghế còn khêu hao đèn.

Thương thay cứ ngày quen dậy sớm,
Đợi tối ngày tin vẫn vắng đâu.
Day tà áo, dạo quanh lầu,
Liễu kia ve khóc rủ sầu ngang mi.

Chả thấy gì, lại còn lủi thủi,
Gượng ôm cầm dạo mấy đường tơ,
Bình lan bướm vội theo đùa,
Bực thôi xỏ dép bỏ ra thăm vườn.

Giờ hẳn nói: “Trăng tròn lại tỏ”,
Để đến ngày “Gương vỡ lại liền”!
Biết đâu đường thế trần phiền,
Người đi chưa dễ biết phen nào về!

Thôi lại bảo mình e ở mãi,
E kinh đô đã phải lòng ai!
Làng chơi quên thói ăn chơi.
Đất phồn hoa ấy lại trời Phú Xuân!

Chẳng vì tiếc xuân nên nán ná,
Sao xuân rồi, lại hạ, rồi thu?
Mấy nơi gác tía rèm chu,
Anh hùng hào kiệt chưa từ lọ ai?

Như thế ấy ai người biết với?
Trong yên ba riêng tủi lòng này.
Phải chăng trai trẻ những ngày,
Rằng ưa đài các? Rằng hay giang hồ?

Câu lữ cảnh mượn ru ly hận,
Hồn hương quan vơ vẩn đêm trường.
Ai mà nghĩ đến mà thương.
Vì ai thêm xót nỗi đường cam gay!

Nghề nội trợ đã hay rằng thế,
Việc tổ tiên thì để trên đầu.
Rau khe, nước suối mặc dầu,
Một tay trăm việc chắc đâu lo tròn?

Duy biết chắc đàn con mạnh giỏi,
Lòng chẳng nghe ái ngại điều chi!
Ngày đi trẻ dại biết gì,
Tóc răng rày đã ra bề đã khôn!

Dễ thương nhỉ thằng con anh trưởng!
Tuổi mười ba, mười bốn chi rồi!
Anh mình hẳn lấy làm vui,
Năm này cháu đã theo ai sách đèn.

Nhớ đèn sách khôn quên hai bạn,
Mùi chi lan thoang thoảng còn hoài,
Chén đưa nào lúc khuyên nài,
Vị thành lúc ấy là rồi chia tay.

Sau đất Bắc đường đầy binh lửa,
Hai anh ta về ở bề nào?
Bịnh chung, chung mối thương đau,
Thương ôi kẻ đấy người đâu một trời?

Bao giờ lại cùng ngồi chuyện vãn,
Chuyện gần xa lòng gạn hỏi lòng?
Mà nay nào nguyệt nào phong,
Nào thi nào tửu, ai chung với nào?

Trông đất khách, lệ trào đôi mắt,
Ngóng quê nhà, đường mắc nghìn non.
Rượu rồi gục xuống câu lơn,
Chiêm bao mở mắt, đêm còn hoàn đêm!


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
15.00
Trả lời