Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Đất nước (Nguyễn Đình Thi): Bình giảng khổ thơ cuối trong bài thơ Đất nước

Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi được sáng tác trong khoảng thời gian dài (1948-1955) là cảm hứng thi ca mang tính tổng hợp về chủ đề đất nước. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ là niềm tự hào kiêu hãnh về Tổ quốc Việt Nam từ trong đau thương nô lệ dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vùng lên đấu tranh giành thắng lợi huy hoàng với niềm tin yêu sáng ngời được kết thúc bằng bốn câu thơ đầy hào hứng:

Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà
Ngay câu thơ đầu tiên của khổ thơ tác giả đã cho người đọc thấy một loạt hình ảnh tiếng súng. Đó không phải là những tiếng súng nổ lẹt đẹt mà là tiếng súng nổ giận dữ, đó là tiếng súng nổ rung trời đồng thời đó cũng là sự giận giữ của lòng người. Những dàn súng lớn của quân ta vào đồn bốt của giặc không chỉ bắn ra bằng những viên đạn đồng mà còn được bắn bởi những viên đạn nhồi bằng thuốc nổ căm hờn của lòng người dân Việt Nam được nén chặt từ hàng năm nay dưới ách xâm lược của thực dân Pháp “Thằng giặc Tây thằng chúa đất đứa đè cổ, đứa lột da” chính vì thế mà chúng mới có sức rền vang mạnh mẽ đến mức làm rung chuyển cả trời đất. Hình ảnh đó làm ta liên tưởng đến những câu thơ của Nguyễn Trãi khí thế tiến công mạnh như vũ bão của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh:
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật
Miền Trà Lan trúc chẻ tro bay
Đánh một trận sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông
(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Nếu câu thơ trên nhà thơ miêu tả sức mạnh của dân tộc qua hình ảnh tiếng súng thì đến câu thơ này là hình ảnh con người hiện lên “như nước vỡ bờ”. Câu thơ vừa mang đậm ý nghĩa hiện thực mà lại giàu ý nghĩa tượng trưng, diễn tả hình ảnh từng binh đoàn xông lên chiếm lấy cao điểm cuối cùng trong một trận đánh nào đó vừa diễn tả sức mạnh quật khởi của cả dân tộc bị áp bức nô lệ. Hình ảnh này được thể hiện thật rõ rệt qua bút pháp so sánh tài tình của tác giả với cách vận dụng thành ngữ giản dị dễ hiểu mà giàu ý nghĩa tượng trưng “Người lên như nước vỡ bờ”.

Hai câu thơ trên với nhịp thơ ngắn, nhanh, mạnh:
Súng nổ rung trời / giận dữ
Người lên / như nước/ vỡ bờ
Như những bước chân đang dồn dập xông lên với khí thế chiến đấu vô cùng mạnh mẽ quyết liệt của quân và dân ta.

Nếu hai câu thơ trên là khí thế chiến đấu, sức mạnh thần kỳ của quân và dân ta trong khí thế tiến công giành chiến thắng thì hai câu thơ cuối cùng của bài thơ ngòi bút của tác giả như làm sống dậy sức sống của người dân Việt Nam từ kiếp nô lệ tâm hồn đau thương đã vượt qua những trận chiến ác liệt đầy “máu lửa” để làm nên những chiến công chói lọi huy hoàng:

Nước Việt Nam từ trong máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng loà Hai câu thơ tạo nên hai hình ảnh đối lập đã làm nổi bật sự quật khởi vĩ đại của đất nước. Động từ “rũ” chỉ tác động mạnh mẽ dứt khoát mau lẹ. Trong phút chốc chúng ta đã rũ sạch mọi quá khứ bùn nhơ và hiện lên với một tư thế như một dũng sỹ thật oai phong lẫm liệt “đứng dậy sáng loà”, sáng loà là ánh sáng của hào quang, nó còn gợi cho ta cảm giác từ bóng tối đột ngột bước ra ánh sáng. Đó là ánh sáng của chiến công, của tư thế làm chủ đất nước.

Bốn câu thơ đã tạo được một bức tranh hào hùng với bối cảnh vừa rộng lớn vừa hiện thực vừa tượng trưng phảng phất màu sắc thần thoại và cảm hứng lãng mạn. Và có lẽ đó cũng là những hình ảnh thực mà nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã từng chứng kiến ở chiến trường Điện Biên Phủ lịch sử. Trong tiếng súng đại bác dồn dập rền vang các chiến sỹ của ta từ các chiến hào đầy bùn đỏ ào ạt xông lên như những thác người tràn vào chiếm lấy cố thủ cuối cùng của quân Pháp ở đồi Him Lam:
“Tôi thấy các anh mình đầy bùn nhưng khi nhảy lên trên mặt đất, các anh hiện ra chói loà trong ánh nắng”

Trong giờ phút lịch sử huy hoàng ấy, trước mắt nhà thơ như sừng sững vụt lên chân dung của nước Việt Nam mới, chói ngồi trên cái nền lửa máu bùn lầy, khói đạn trong không gian dồn dập rền vang tiếng súng nổ rung trời. Phải chăng đó là hình ảnh thu nhỏ của không khí Cách mạng tháng Tám của cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt và hào hùng đã đi vào sử sách:
Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng
(Tố Hữu)
Và chỉ trong những giây phút lịch sử ngắn ngủi, dân tộc đất nước ta đã hoá thân lột xác từ địa vị nô lệ không tên tuổi bỗng chốc trở thành:
Việt Nam dân tộc anh hùng
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta
Sau này cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy hi sinh gian khổ hoàn toàn chiến thắng nhà thơ Tố Hữu cũng có những câu thơ đầy tự hào như Nguyễn Đình Thi:
Ôi Việt Nam từ trong biển máu
Người vươn lên như một thiên thần
(Việt Nam máu và hoa)
Chỉ có bốn câu thơ với hai mươi tư chữ đã kết tinh được chủ đề tư tưởng của bài thơ Đất nước. Đoạn thơ có những câu thơ ngắn ngắt nhịp đều đặn tạo được một âm hưởng dõng dạc hùng tráng. Nó xứng đáng là một bức điêu khắc bằng thơ đựng lên được một tượng đài hào hùng của dân tộc, trong những giây phút huy hoàng chói sáng nhất của lịch sử.


(Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
Ảnh đại diện

Việt Bắc (Tố Hữu): Cách mạng và dân tộc trong “Việt Bắc”

Tố Hữu là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng. Tính chất cách mạng ấy thể hiện ở chỗ các sự kiện lớn của cách mạng đều được Tố Hữu phản ánh kịp thời. Việt Bắc là bài thơ đánh dấu sự kết thúc kháng chiến, Chính phủ rời Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. Bài thơ như là một tổng kết nhỏ, nhìn lại toàn bộ những ngày tháng gian nan kháng chiến hào hùng. Trong bài thơ, ta có thể thấy hình ảnh thể hiện sức mạnh kháng chiến:

Những đường Việt Bắc của ta,
Đêm đèm rầm rập như là đất rung,
Quân đi điệp điệp trùng trùng.
Ta có thể tìm thấy những chủ trương lớn của kháng chiến:
Điều quân chiến dịch thu đông,
Nông thôn phát động, giữa thông mở đường,
Giữ đê, phòng đạn, thu lương,
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…
Đồng thời, nhà thơ cũng đã vẽ ra viễn cảnh xây dựng của đất nước khi kháng chiến kết thúc:
Ngày mai rộn rã sơn khê
Ngược xuôi tàu chạy bốn bề lưới giăng.
Đấy là thơ, nhưng cũng là đường lối phát triển của cách mạng khi một nửa nước bắt tay vào khôi phục cuộc sống và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Yếu tố cách mạng còn thể hiện trong sự son sắt thuỷ chung với Việt Bắc – quê hương cách mạng dựng nên cộng hoà của Chính phủ mà Tố Hữu là người phát ngôn bằng thơ ca.

Trình bày một bản tổng kết kháng chiến, nhưng Tố Hữu chọn thể thơ lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc. Lại chọn cách trình bày đối đáp như trong ca dao. Hơn thế nữa cách xưng hô: ta, mình, ai của ca dao được sử dụng rất linh hoạt càng làm tăng thêm sự thân thiết, gắn bố giữa kẻ ở người đi. Những hình ảnh thiên nhiên, con người Việt Bắc được hồi tưởng lại trong nỗi nhớ da diết, bâng khuâng: nhớ gì như nhớ người yêu càng làm cho bài thơ thâm đẫm tình cảm, dễ dàng hoà nhập vào văn mạch dân tộc vốn dào dạt trong mỗi trái tim người Việt.


(Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: