Trang trong tổng số 926 trang (9251 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hoán khê sa (Nhất khúc tân từ tửu nhất bôi) (Án Thù): Bản dịch của Châu Hải Đường

Một khúc ca từ, rượu một ly,
Đình đài vẫn cũ, tiết trời y,
Bóng chiều đã ngả trở về chi?

Biết phải làm sao, hoa úa rụng,
Dường từng quen biết, én bay về,
Bồi hồi vườn nhỏ bước chân đi.
Ảnh đại diện

Mộc lan hoa (Tiền Duy Diễn): Bản dịch của Châu Hải Đường

Cảnh sắc trên thành oanh hót rối;
Khói sóng chân thành xuân vỗ gọi.
Cỏ thơm dương biếc thuở nào nguôi;
Mắt lệ lòng sầu đà đứt nhói.

Tâm tình dần đã nên già cỗi;
Thảng thốt soi gương nhan sắc đổi.
Thuở xưa nhiều bệnh rượu không ưa;
Nay rượu riêng hiềm sao ít ỏi!
Ảnh đại diện

Nhất tùng hoa (Trương Tiên): Bản dịch của Châu Hải Đường

Lầu cao trông ngóng mấy cho cùng,
Chi sánh tấm tình chung.
Li sầu khiến rối muôn tơ liễu,
Mịt mù bay, hoa rụng đường đông.
Ngựa hý dần xa,
Dấu chàng nào thấy,
Chẳng dứt bụi bay hồng!

Đôi uyên ao nhỏ nước mênh mông;
Nam bắc mái chèo thông.
Vứt thang gác vẽ sau chiều tối,
Lại là khi, trăng rọi rèm song.
Ôm hận nghĩ suy,
Chẳng bằng đào hạnh,
Còn được gả đông phong.
Ảnh đại diện

Cổ luân đài - Tẩu giang biên (Khổng Thượng Nhiệm): Bản dịch của Cao Tự Thanh

Tới bên sông,
Hướng ai bày tỏ hận trong lòng?
Gió thổi lệ già,
Thành côi một mảnh,
Mỏi mắt chờ trông,
Đem hết tàn quân tử chiến.
Ra khỏi trùng vây,
Nước xưa lưu luyến,
Ai hay tiệc dứt tiếng ca tàn.

Trường Giang một dải,
Đầu Ngô cuối Sở dặm ba ngàn,
Về cả tay người,
Mưa xoay gió chuyển.
Sóng lạnh về đông cuốn,
Muôn việc gởi mây ngàn.
Chờ kẻ chiêu hồn,
Góc bể tiếng vang vang.
Ảnh đại diện

Quán Oa cung hoài cổ ngũ tuyệt kỳ 3 (Bì Nhật Hưu): Bản dịch của Châu Hải Đường

Giữa tối, Oa Cung hoá chiến trường;
Máu tanh nhuộm đẫm át mùi hương.
Nến tàn Tây tử châm chăng kịp;
Để khóc quân vương lệ mấy hàng.
Ảnh đại diện

Đăng Cô Tô đài (Tất Đô Thích): Bản dịch của Châu Hải Đường

Xương Môn dương liễu mướt xuân phong;
Trước điện hoa tàn giọt lệ hồng
Tơ liễu năm năm bay ngập đất;
Hành nhân nào thấy Quán Oa cung.
Ảnh đại diện

Vịnh sử thi - Cô Tô đài (Hồ Tằng): Bản dịch của Châu Hải Đường

Ngô vương cậy bá, tỏ hùng tài;
Tham uống Cô Tô chén rượu say;
Nào biết Tiền Đường vừng nguyệt sáng;
Đưa quân Việt đến tối hôm nay.
Ảnh đại diện

Tô đài điếu cổ (Dương Vạn Lý): Bản dịch của Châu Hải Đường

Vờn mây bốn tháp hiện lưng trời;
Tan tuyết, non ngàn vẻ mới tươi.
Nghe nói, trông xa trăm mấy dặm;
Cớ chi chẳng thấy sáu ngàn người?
Ảnh đại diện

Đăng Cô Tô đài hoài cổ (Trương Vũ (II)): Bản dịch của Châu Hải Đường

Đài hoang dạo bước góc thành tây;
Lối cũ thê lương, ngập cỏ cây.
Quạ tối, tường rêu kêu mấy dịp;
Hổ vàng, mồ nát mất bao ngày.
Thái Hương đường dứt, hươu nai dạo;
Hưởng Tiệp hiên tàn, gai góc dày.
Muốn viếng Ngũ Viên đâu đó tá?
Khói mờ trăng lặn dạ khôn khuây.
Ảnh đại diện

Những vần thơ giản dị - 005 (Nếu anh thấy một mỏm đồi) (José Martí): Bản dịch của Lưu Vạn Kha

Nếu anh thấy một mỏm đồi
Như chòm bọt trắng, thơ tôi đấy mà
Thơ tôi, một mỏm đồi xa
Một chiếc quạt mát mượt mà bằng lông.
Thơ tôi một chiếc dao găm
Từ trong chuôi nắm nở vành hoa tươi
Thơ tôi dòng nước giữa trời
Bắt nguồn từ thửa cỏ tươi trước nhà.
Thơ tôi xanh mát, mượt mà
Đã đỏ, đỏ thắm như là lửa reo
Thơ tôi là một chú hươu
Bị thương tìm chốn núi đèo an thân.
Thơ tôi chân thật nhân văn
Tặng người anh dũng đôi vần làm vui
Thơ tôi ánh chớp sáng ngời
Từ trong thép đỏ luyện tôi kiế…

Trang trong tổng số 926 trang (9251 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: