Trang trong tổng số 922 trang (9220 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Tần Mục Công mộ (Tô Thức): Bản dịch của Châu Hải Đường

Thác Tuyền ở thành đông;
Mộ ở trong thành chửa trăm bộ.
Mới biết xưa chưa có thành này;
Người Tần nhận đó Mục công mộ.
Xưa ông sống chẳng giết Mạnh Minh;
Há đâu khi chết nhẫn lòng chôn Tam Lương?
Chết theo, ba người hẳn tự ý;
Cũng như hai kẻ nước Tề theo Điền Hoành.
Người xưa cảm vì một bữa ăn;
Còn xin liều chết chẳng tiếc thân.
Người nay không được thấy việc đó;
Đem điều sở kiến nghi cổ nhân.
Người xưa trông chẳng thấy;
Người nay đau muôn phần.
Ảnh đại diện

Vị minh tiểu kệ đồng Phan sinh dạ toạ (Cao Bá Quát): Bản dịch của (Không rõ)

Chọn bạn chọn bề ngoài,
Không thấy điều hẳn hoi.
Uống chè có hoa ướp,
Biến mất hương chè rồi.
Sáng sớm múc nước giếng,
Lửa nhóm nắm than rời.
Không khói cũng không bụi,
Rửa tay khề khà ngồi.
Nếm mùi cốt thực chất,
Không cần thêm vị ngoài.
Chớ vì chút của hiếm,
Lừa dối mũi ta hoài.
Người đẹp không ở áo,
Thơ hay thường ít lời.
Kệ này hãy ghi lấy,
Chứng quả việc trên đời!
Ảnh đại diện

Tuyệt cú nhị thủ kỳ 2 (Đỗ Phủ): Bản dịch của Khuyết danh

Sông biếc chim trắng bạch,
Non xanh hoa đỏ ngầu.
Xuân này đà trót quá,
Ngày nào hẹn về mau.
Ảnh đại diện

Động phòng (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trần Tế Xương

Sểnh sảng cung trang tiếng lạnh lùng,
Gió hiu đưa xới cửa đền rồng.
Mảnh trăng kim cổ khi tròn khuyết,
Đầy đất lâu đài lúc có không.
Giọt lậu canh khuya nào quận quốc,
Chiếc thuyền buộc chặt với non sông.
Xa xôi muôn dặm Hoàng Sơn tít,
Mấy chốn gò phơi vẻ móc hồng.
Ảnh đại diện

Phùng nhập kinh sứ (Sầm Tham): Bản dịch của Đông Sơn cư sĩ

Đông trông vườn cũ xa đường,
Lệ rơi gậy trúc ướt tràn đôi tay.
Gặp nhau giấy viết không đây,
Cậy người về nói ta rày bình an.
Ảnh đại diện

Giang đình dạ nguyệt tống biệt kỳ 2 (Vương Bột): Bản dịch của Khuyết danh

Làn khói lồng thềm biếc,
Vầng trăng hướng cửa bay.
Đình ly cây vắng ngắt,
Đêm lạnh nước non này.
Ảnh đại diện

Xuân nhật đăng Kim Hoa quán (Trần Tử Ngang): Bản dịch của Trần Tế Xương

Đền tiên thềm ngọc buổi xuân chơi,
Lẩn thẩn xa trông mắt tuyệt vời.
Núi nọ lô xô mây lộn nước,
Lầu kia thấp thoáng khói lưng trời.
Nghìn năm chim hạc chòm cây cổ,
Trăm thước cầu vồng lộng vẻ tươi.
Nào biết ông tiên đâu đó nhỉ,
Đường mây gặp gỡ để mời ai!
Ảnh đại diện

Hoạ Tấn Lăng Lục thừa “Tảo xuân du vọng” (Đỗ Thẩm Ngôn): Bản dịch của Trần Tế Xương

Ngựa xe nức tiếng gần,
Hoa cỏ mát màu xuân.
Ráng trắng bên bờ bể,
Đào tơ rủ bến ngần.
Chim non nhờn cội liễu,
Nắng sáng lộn rau tần.
Hoạ vần lòng như giục,
Giọt sầu chửa thấm khăn.
Ảnh đại diện

Hoạ Khang ngũ Đình Chi “Vọng nguyệt hữu hoài” (Đỗ Thẩm Ngôn): Bản dịch của Trần Tế Xương

Trăng sáng vẻ thu trong,
Kìa ai lẩn thẩn trông.
Vừa như cung uốn khúc,
Phút đã quạt tròn vòng.
Suốt sáng sương trong đượm,
Thâu đêm bóng trắng không.
Đem soi lần áo mỏng,
Khiến dạ biết bao cùng!
Ảnh đại diện

Ký Hoàng Cơ Phục (Hoàng Đình Kiên): Bản dịch của Xuân Như

Tôi nơi bể bắc anh nam hải,
Nhạn chẳng truyền tin tạ mấy rằng,
Đào lý xuân phong một chén rượu,
Giang hồ mưa đêm mười năm đèn,
Nhà trông bốn vách coi bầu bạn
Nước trị trăm năm lọ võ biền
Sách giở những xem đầu đã bạc,
Bên khe vượn khóc chướng lam rền.

Trang trong tổng số 922 trang (9220 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: