Chưa có đánh giá nào
Nước: Nga
40 bài thơ
2 bình luận
Tạo ngày 09/03/2007 23:06 bởi Hoa Xuyên Tuyết, đã sửa 3 lần, lần cuối ngày 13/12/2012 07:17 bởi hongha83, số lượt xem: 3094
Vladimir Vysotsky (1938-1980) là nghệ sĩ điện ảnh, diễn viên sân khấu. Lên sân khấu từ năm 1960, từ năm 1963 tham gia đóng nhiều phim, là tác giả và người trình diễn các ca khúc rất nổi tiếng. Và hơn tất cả ông là một nhà thơ đầy cá tính, có cái nhìn mọi sự kiện một cách tinh tường và tinh tế, dám nói lên mọi góc độ xù xì nhất để cảnh báo cho lương tâm xã hội.

Tác phẩm:
- Giây thần kinh (in truyền tay, tái bản năm 1982). Năm 1986 được trao tặng giải thưởng nhà nước Nga Xô Viết.

 

 

 

Ảnh đại diện

Hai thập kỷ vắng bóng Vysotsky

Tác giả: Hoàng Linh


Vladimir Vysotsky... Ngay từ lúc sinh thời, người đàn ông mang cái tên đó đã trở thành một huyền thoại. Những điệp khúc được anh cất lên bằng chất giọng khản đặc, với chiếc ghi-ta không lúc nào rời anh, đã thăm thẳm đi vào tâm thức một thế hệ. Chất lửa nội tâm, từng cuốn hút, quyến rũ bao người, từng thiêu đốt thể chế quyền lực độc đoán ở Liên Xô và làm ấm biết bao tâm hồn, cuối cùng đã theo anh ra đi vĩnh viễn khi anh mới 42 tuổi. Hàng trăm ngàn người tiễn đưa anh ở nhà hát Taganka, nơi mà 16 năm trước đó, anh đã bám vào tấm màn, định làm một Hamlet của thế kỷ XX để "dựng xây lại thời đại này".

Hai mươi năm đã trôi qua. Nghệ thuật của nhà thơ, người ca sĩ, diễn viên - "lương tâm của thời đại Brezhnev", "Volodya của tất cả mọi người" - đến nay vẫn giữ nguyên tính thời sự và tươi tắn như thuở nào. Sức mạnh những vần thơ "nổi loạn" mà anh từng sáng tác ngày ấy đã vượt qua dịp kỷ niệm năm nay, cùng mọi thứ bi thảm giả tạo, kệch cỡm và những tình cảm yêu thương chân thành của nó.

*

Trong lễ khai mạc Thế vận hội Moscow 1980, chú gấu Misha đã mỉm cười và bay vụt lên không trung như một trái khinh khí cầu. Vài ngày sau, tâm hồn của Vladimir Vysotsky cũng vĩnh viễn rời xa trái đất để đến với sân khấu của những vì sao lồng lộng. Có lẽ chỉ khi đó, tâm hồn bệnh tật, nhưng nồng cháy ấy mới cảm thấy lần đầu tiên rằng nó được tự do.

"Họ chơi một trò lừa bịp sói

Bọn thợ săn, họ chẳng biết run tay

Họ bủa vây tự do của chúng ta bằng những cây cờ

Và bây giờ họ chắc mẩm đạt được mục tiêu." (1)

Trong vòng vài năm, Vysotsky đã trở thành một thần tượng, một huyền thoại sống thực sự. Cố nhiên, điều này không thể làm chính quyền hài lòng. Người ta đã làm tất cả để ngăn chặn không cho anh xuất bản đĩa hát, in thơ. Những đêm diễn của anh thường bị cấm vào giây phút cuối cùng; thông thường, người ta gây sức ép với ban tổ chức. Nhà chức trách không thể tha cho Vysotsky cái tội đã trở thành một thi sĩ mà không xin giấy phép của họ. Người ta chỉ muốn anh đừng tồn tại thì hơn.

Nhưng Vysotsky đã tồn tại. Và anh mê hát, chỉ cần ai đó yêu cầu là anh vớ ngay chiếc ghi-ta và cất tiếng hát. Tiếng hát của anh cũng là tiếng nói của mọi người, không phân biệt tuổi tá,c giới tính, địa vị xã hội. Bằng tiếng nói của nhân dân, Vysotsky hát đã ca lên lời ca của niềm ao ước tự do; trái với những ca sĩ danh tiếng đường thời, nhưng thuộc dòng nhạc "trí tuệ" - và do đó, xa lạ hơn với quần chúng - như Aleksandr Galich hay Bulat Okudzhava. Đa số dân Nga còn cảm thấy anh thuộc về họ vì anh có giọng hát khàn khàn như của dân xay xỉn, bởi lẽ họ cảm thấy câu nói "Nốc vài ly rượu mạnh vào buổi sáng, bạn sẽ cảm thấy tự do cả ngày!" là đúng trong nhiều trường hợp, dù nó mang tính tự kỷ ám thị.

Ngay trong đời, Vysotsy đã là trung tâm của những huyền thoại. Trong quán rượu, người ta kháo nhau là đã nhìn thấy Vysotsky cùng Marina Vlady, người vợ mang quốc tịch Pháp của anh. Những kẻ may mắn hơn thì khoe họ đã được nhậu nhẹt, thậm chí phóng xe hơi cùng Volodya. Hai thập niên đã trôi qua từ ngày ấy. Ở nước Nga, mọi thứ có thể thay đổi đều đã đổi thay. Vysotsky, nếu còn sống, hẳn đã được trao hàng tá giải thưởng Quốc gia. Anh được tạc tượng, các kênh truyền hình Nga có những chương trình dài dằng dặc để tướng nhớ về anh. Nhưng càng ngày, càng ít người thực sự gần gũi với anh và sự nghiệp của anh.

Dù sao đi nữa, điều quan trọng là những người bạn hữu thực sự, giờ đây thỉnh thoảng có thể tụ họp và im lặng lắng nghe những ca khúc cũ của anh. Bởi lẽ, cũng chẳng cần đến những bài hát mới. Từ mấy chục năm trước, Vysotsky dường như cũng đã tiên đoán đôi chút về giai đoạn hiện tại, sau biến cố 1989 ở Đông Âu và Liên Xô:

"Chân chúng ta, hàm chúng ta mau lẹ

Vậy cớ gì, thủ lĩnh, trả lời đi

Cớ gì chúng ta lao mình chạy trước họng súng như những kẻ chịu lời nguyền

Mà không thể xé rào cấm kỵ?" (2)

*

Đầu thập niên 60. Đạo diễn Yury Lyubimov khởi đầu thử nghiệm "avant-garde" nổi tiếng của ông tại nhà hát Taganka. Và năm 1964, Vysotsky đã có mặt ở đây. Cái chết của anh vào năm 1980 cũng đánh dấu sự chấm dứt của giai đoạn "hoàng kim" của Taganka.

Yury Lyubimov buồn buồn kể lại, với nụ cười hạnh phúc của một người cha:

"Lần gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi cũng rất nên thơ. Đội chiếc mũ quen thuộc, tay xách ghi-ta, anh bước vào nhà hát. Tôi phải nhận xét: "Hẳn người ta dạy cậu là ông "sếp" ưa ghi-ta?!" Anh mỉm cười và đọc một bài thơ nào đó của Mayakovsky, rồi hát liền trong 20 phút. Tôi hỏi ai là tác giả của những bài hát ấy và anh đáp chính anh. Sau đó, anh còn hát chừng nửa tiếng nữa, rồi tôi bảo anh: "Sáng mai tôi chờ cậu!"

Từ khoảng khắc đó, hai người trở thành một cặp không thể chia cắt.

"Thực sự là anh bị xua đuổi như người ta săn loài sói. anh không thể làm được gì, người ta không cho anh ra băng đĩa, sách vở (trừ chiếc đĩa nhỏ khốn khổ trước khi anh qua đời). Mặc dù anh ước muốn biết chừng nào! Anh muốn trở thành một người bình thường! Sống như anh rất khó, vì anh cảm thấy một cách vô cùng sắc bén điều gì xảy ra với anh, và cảnh thiếu tự do là một gánh nặng ghê gớm đối với anh. Người ta còn không cho anh sang với Marina. Mặc dù đó là một tình yêu lớn, một mối tình "sét đánh" thực sự, dù sau một thời gian, có thể thấy họ hờ hững với nhau."

Vysotsky sống rất gấp gáp. Anh làm việc rất căng thẳng, biểu diễn liên hồi và càng ngày càng uống rượu nhiều hơn. Khi vốt-ca đã không đủ với anh, anh dùng cả thuốc phiện.

"Tôi biết tin anh chết khá nhanh, vào lúc 5 giờ sáng. Tôi ốm và nằm trên giường, khi đó chuông điện thoại đổ liên hồi. Borovsky, cộng sự của tôi, chỉ nói: "Thôi, thế là chấm dứt cuộc tranh đua để giành Vysotsky!" Cậu ấy ám chỉ việc trong đoàn kịch, tôi đặc biệt yêu quí Volodya. Khi tôi đến nhà anh, đã có rất nhiều người ở đó."

"[Trước đó], tôi đã cảm thấy có một điều gì kinh khủng sẽ xảy ra với anh, nhưng tôi tin là còn có thể chữa chạy và tác động đến anh. Có điều, tôi không biết anh đã trở thành nô lệ của ma túy đến mức ấy. Katya, vợ tôi, là người đầu tiên cảnh cáo tôi rằng dáng đi của anh thật kỳ quặc, như người đang bay. Tôi bắt đầu vắt óc suy nghĩ khi một bận, anh lao vào phòng tôi với dáng điệu như thế. Có lẽ nếu tôi không bị ốm và tôi phát hiện kịp thời rằng anh đã bị thuốc phiện ngự trị đến mức ấy, khi đó có lẽ còn có thể nhúng tay vào. Nhưng người ta bảo là chính anh cũng đã muốn bỏ thuốc phiện. Trong mấy ngày, anh cứng rắn tự kiềm chế, không dùng ma túy. Nhưng tim anh... động mạch chủ của anh không chịu được... đã vỡ tung..."

"Tôi chỉ muốn nói đôi điều

Trong những vần thơ

Tôi cũng chẳng có quyền gì hơn

Chào đời trong tội lỗi

Tôi đẫm mồ hôi, run rẩy bên giường tân hôn" (3)

*

Ngày hôm nay, nhà hát Taganka lại hệt như thuở xưa. Lũ phe vé lại xuất hiện đông đặc và gạ bán vé với giá cắt cổ. Trước nhà hát, những con người hi vọng vào điều kỳ diệu, giới trí thức tinh hoa, thế giới nghệ thuật tụ họp, và chính trị cũng có kẻ đại diện vì Yury Luzhkov, thị trưởng Moscow, cũng có mặt. Trong nhà hát là tấm ảnh khổng lồ của Vysotsky, trước đó là những đóa hoa. Tất nhiên người ta sẽ diễn Vladimir Vysotsky. Đó là vở kịch đã bị cấm hồi 1981 ngay trong thời kỳ tập dượt và cuối cùng, tổng bí thư Andropov chỉ cho phép diễn nó độc một lần trong vòng thân nhân, người quen, bạn bè. Dạo đó, phải xuất trình giấy mời và thẻ căn cước mới có thể len qua 2 hàng rào quân nhân để vào xem vở kịch.

Trước buổi diễn, Lyubimov còn tập dượt với đoàn kịch.

- Lời giải thích rất đơn giản: tôi rất muốn buổi biểu diễn này thành công - nhà đạo diễn sân khấu nổi tiếng thế giới cho biết.

- Vở nhạc kịch này rất phức tạp, đòi hỏi sự chú ý đặc biệt. Như Afred Snitke đã từng nói, đây là thử nghiệm đầu tiên của ông khi ông sáng tác một vở nhạc kịch hiện đại. Nội dung vở kịch đơn giản. Volodya đã từng thủ vai Hamlet, đúng không? Anh qua đời, và vở diễn vẫn tiếp tục dù vắng anh.

- Sự tương phản giữa Hamlet và thi nghiệp của Vysotsky tạo nên mâu thuẫn cơ bản. Cố nhiên, nảy ra một vấn đề là có thể thống nhất cái bất-khả-thống-nhất bằng cách nào? - Boris Messerer, nhà đồ họa và dàn dựng nổi tiếng thế giới, từng tham gia quá trình sáng tác, cho biết.

- Tiếng nói của Volodya còn đây, nhưng anh không còn nữa. Ưu điểm đặc biệt của vở kịch là nó vẫn giữ được đặc tính sân khấu, không bị trượt sang sự khóc lóc ướt át - Bella Akhmadulina, nữ thi sĩ, người bạn cũ của Vysotsky, đánh giá về vở kịch.

Rồi một giọng nam trung vang lên. Ở đây, không ai xem vở kịch này lần đầu, nhưng ai cũng cảm thấy đêm nay là một đêm đặc biệt. Các diễn viên trẻ như Zolotukhin, Antypov đã cố gắng hết sức. Tất cả đều nghĩ đến một người. Một tràng pháo tay bão tố; Lyubimov và Luzskov đặt một bó hoa khổng lồ trước cây đàn ghi-ta cô độc, ngả mình trước nghệ thuật của Volodya.

Ở buổi chiêu đãi, tất cả đều có mặt. Voznesensky, Akhmadulina, Messerer, Zolotukhin (diễn viên hàng đầu hiện nay của nhà hát Taganka), Khmelnitsky (ngôi sao một thời) và những người khác. Trong phòng thay quần áo thời xưa, trên bàn vẫn còn những bó hoa. Và trước bức chân dung khổng lồ của Vysotsky cũng vậy.

Trên sân khấu, khi ấy đã trống rỗng, có một ngọn đèn luôn được thắp sáng để tưởng nhớ đến Vysotsky.

"Dù các người có đạp tôi xuống bùn, quẳng tôi xuống nước,

Chỉ xin hãy đừng đụng đến dây đàn tôi.

Nhưng hồn tôi bị chà đạp, ý chí tôi bị bẻ gãy,

Và những sợi dây màu bạc bị dựt đứt

Lửng lơ" (4)

*

"Chúng ta đã chẳng lo bị xử bắn

Vậy mà chúng ta vẫn sống cúi đầu

Như những đứa trẻ của những năm tháng Nga kinh hoàng

Và liên hồi, rượu đổ vào chúng ta" (5)

Những vần thơ của Vysotsky phản ánh trung thành thời đại anh sống. Nhưng Moscow yêu quí của anh bây giờ không còn như xưa. Nếu còn sống, khó lòng anh nhận ra nó. Chẳng hạn như ở GUM (Bách hóa Tổng hợp), chỉ sau vài ly rượu mạnh, anh có thể tưởng mình đang ở Paris và sẽ lao đi kiếm tìm Marina. Đi về hướng Okhotny Ryad, hẳn anh sẽ thấy lạ trước cảnh nhà thờ Đức mẹ Maria Kazan và cổng Kitaigorod được trùng tu, và sẽ thấy mình đi ngược lại thời gian. Và nhìn ra xa, liếc thấy nóc tròn của đại giáo đường Chúa Cứu thế, anh sẽ phải lắc đầu. Đấy là chưa nói đến cung cảnh điện Cẩm Linh, cạnh chú đại bàng 2 đầu - biểu tượng một thời của dòng họ Romanov - là ngôi sao đỏ của bảy thập kỷ Xô-viết. Anh sẽ ngạc nhiên trước những văn phòng, những khu thương mại tân kỳ, với những chảng trai, cô gái ăn vận, đi đứng theo đúng mốt mới nhất của phương Tây, và sẽ bần thần tự hỏi "tiền đâu ra mà phung phí thế?" Rồi, rảo bước đến nhà hát Taganka, nhìn cảnh những kẻ hành khất xin tiền của du khách ngoại quốc rồi buông lời cám ơn bằng tiếng Anh, anh sẽ phải bần thần mà thốt lên "những người muôn năm cũ - hồn ở đâu bây giờ?"...

Và, nếu còn sống, anh sẽ thấy hằng hà sa số biểu ngữ, áp-phích quảng cáo cho những buổi hòa nhạc kỳ vĩ, nhân dịp kỷ niệm "Hai mươi năm vắng bóng Vysotsky". Giá vé cắt cổ, và những buổi diễn này có dáng vẻ của các show mốt thời trang. Dù được TV tường thuật và thu hút được sự tham gia của đông đảo giới công tử phong lưu, nhưng tìm đâu ra một tâm hồn, một tấm lòng?!

- Tôi không thật hiểu, vì nếu người ta đã sống ngần ấy năm thiếu anh thì còn cần quái gì đến cái dịp kỷ niệm tồi tệ này? Bởi anh luôn ở bên chúng tôi, từ đầu đến cuối. Và vì thế chúng tôi thấy buồn bã - ai đó lên tiếng, mắt đẫm lệ, trong nghĩa địa Vagankovo, nơi anh yên nghỉ.

Đã từ nhiều ngày nay, những đoàn người giản dị đã đến đây với những bó hoa, cây đàn ghi-ta và chiếc đài ghi âm trong tay, họ cùng hát và cùng nghĩ đến anh. Hơi có vẻ lộn xộn và bát nháo của một "phiên chợ Ba Tư", nhưng vẻ chân thực của nó khiến ta phải cảm động.

Nếu còn sống, chắc hẳn anh sẽ đến đây, chứ anh sẽ chẳng chịu thỏa hiệp với cái giới "tư sản đỏ" kiêm mafia, hiện đang ngự trị trong chính giới Moscow và toàn quốc, những kẻ thường xuyên viện dẫn đến tên anh và nhỏ những giọt nước mắt cá sấu thương xót anh...

Nguồn: Theo Hoàng Linh - Nhịp cầu thế giới online - Hungary

Chú thích:

(1), (2) Trích "Cuộc săn sói" (bản dịch của Hoàng Hưng, tuần báo "Văn nghệ" số 45, ngày 5-11-1998).

(3), (4), (5) Lời thơ và ca khúc của Vysotsky.

(Hoàng Linh)

02.09.2000

(phỏng dịch bài viết "Dạo chơi Moscow cùng Volodya" [Moszkvai séták Vologyával] của ký giả Stier Gábor, đăng trên nhật báo "Dân tộc Hung" [Magyar Nemzet], tháng 8-2000)
"Xin anh đừng hỏi vì sao
Tên anh em để lẫn vào trong thơ..."
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vladimir Vysotsky, người nghệ sĩ “lao vào cơn giông”

Tác giả: Thuỵ Anh


Vysotsky sinh năm 1938 tại Matxcơva, và mất sớm, ở tuổi 42. Nếu còn sống, nghệ sĩ đã hơn 70 tuổi. Nhưng tôi không thể dùng từ “ông” mà nói về Vysotsky vì, không chỉ cái chết trẻ, mà cả sự sống động sôi nổi của những bài hát và hình ảnh quen thuộc chưa hề vắng bóng trên truyền hình trong những bộ phim được chiếu đi chiếu lại, đã khiến Vysotsky, đến giờ vẫn còn là chàng nghệ sĩ trẻ xông xáo trên mọi “mặt trận” sáng tác, người muốn “giằng đứt chiếc cổ dề bằng bạc/ Xích vàng sẽ cắn nát tan, Nhảy bổng qua hàng giậu, lao vào rặng ké/Mạng sườn gãy/ Và tôi chạy vào cơn giông”…

Quả vậy. Sau khi tốt nghiệp khóa diễn viên của nhà hát hàn lâm nghệ thuật Matxcơva mang tên Chekhov, Vysotsky hăm hở lao vào hiện thực cuộc sống. Anh làm thơ, viết bài hát, diễn ở nhà hát và đóng phim, là tác giả của trên dưới 700 bài thơ, bài hát, có gần 30 vai diễn để đời trong lịch sử điện ảnh Xô Viết. Anh còn viết văn. Và viết khá nhiều nhưng chưa từng xuất bản sáng tác nào khi còn sống: truyện ngắn, truyện vừa và những cuốn tiểu thuyết vẫn còn dang dở.

“Nghệ sĩ của toàn dân”

Thật trớ trêu, đáp lại sự hăm hở của người nghệ sĩ, là sự ghẻ lạnh từ phía chính quyền và cấp trên. Là diễn viên, Vysotsky chỉ được nhận vai diễn phản diện, nhưng kỳ lạ là, dù thế nào công chúng cũng vô cùng yêu thích những vai diễn ấy.

Là người làm thơ và sáng tác ca khúc, các thi nhạc phẩm của anh không được in ấn, anh không là hội viên của bất kỳ một hiệp hội nghệ thuật nào, và không được gọi một cách chính thức là “nhà thơ” hay “nhạc sĩ”!

Công chúng càng yêu anh, những thế lực công quyền càng không ưa anh. Trong cuốn “Vysotsky. Hay chuyến bay gãy cánh” (1989), Marina Vlady, vợ anh, đã viết: “Môi trường quân đội rèn cho anh lòng quả cảm, nhưng lại không dạy cách đấu tranh với những tư tưởng khuôn sáo, một cách khôn khéo. Vì thế, sự dũng cảm của anh càng lớn, mọi người lại càng không ủng hộ anh”. Người ta không thích anh vì anh viết về cuộc sống của người dân, một cách gần gũi, thành thực, về sự xảo trá, dối lừa, về những ước mơ không với tới. Họ muốn anh viết khác đi, thì anh lại càng nói to hơn lên sự thật mà mình cảm nhận được. Là một nghệ sĩ hát những bài thơ của mình, tác phẩm của anh có sức lan tỏa rộng, đối với mọi tầng lớp, mọi đối tượng khán giả.

Những vần thơ ban đầu của Vysotsky viết về những điều giản dị, ngộ nghĩnh: về những chú bé đường phố, hay quậy phá, về cả những bọn trộm cắp nữa – cho người đọc nụ cười nhẹ nhõm. Nhưng càng ngày, thơ anh ngày trở nên dằn vặt bức bối hơn. Đọc Vysotsky những năm 70, không thể không cảm thấy không khí ngột ngạt mà nhà thơ dường như muốn dùng câu chữ mà vùng thoát ra, thậm chí sẵn sàng lấy cái chết đánh đổi một hơi thở tự do, hết mình:

Bờ dốc đứng chênh vênh mép vực
Vung roi da quất ngựa trên đường
Sao ngột ngạt, sao mà khó thở:
Uống gió trời, ngửa mặt nuốt sương
Rùng mình trong dự cảm mê cuồng
Của chết chóc… Tan biến đây…Ta biến mất!
(Lũ ngựa trái nết – Thụy Anh dịch)

Vysotsky viết nhiều về chiến tranh, mà bản thân chưa từng tham chiến. Những bài hát như “Sau trận chiến nó đã không về” đã nổi tiếng đến mức làm nên một diện mạo nghệ sĩ của Vysotsky. Có lần nguyên bí thư thứ nhất Trung ương ĐCS LX Khrushov đã mời Vysotsky đến nhà, và hỏi, có phải anh đã lắng nghe chuyện của những người lính, để viết thơ và bài hát hay không. “Không” – Vysotsky đáp. Chiến tranh và cảm thức anh hùng ca đối với những con người Xô Viết như anh, luôn là một ám ảnh. Anh viết như trong vô thức, như viết về chính bản thân mình.
Trong một lần trả lời phỏng vấn đài CBS, khi được/bị hỏi vì sao không tìm cách rời bỏ nước Nga để được tự do sáng tác, Vysotsky đã nói:”Để làm gì? Tôi không phải kẻ chống đối, tôi là nghệ sĩ. Tôi yêu công chúng của tôi.”

Đã có lúc, không chịu nổi áp lực “bị ruồng bỏ”, Vysotsky đã từng viết thư gửi bộ trưởng bộ văn hóa Liên xô Demichov (1973). Bức thư có đoạn: “Tôi chịu trách nhiệm về sáng tác của mình trước đất nước và nhân dân, những người hát và nghe bài hát của tôi dù chúng không được quảng bá qua đài, tivi và các tổ chức ca nhạc”. Anh hy vọng, người ta hiểu sự chân thành của mình, vì anh chỉ muốn một điều: “được là nghệ sĩ cho nhân dân, những người tôi yêu, nỗi đau và niềm hân hoan của họ tôi biết cách thể hiện”. Mong muốn ấy không được đáp ứng. Nhưng trong vòng ba thập  niên (60,70, 80), khắp nơi, người ta nghe anh, và xem anh. Nhà thơ A. Voznesensky đã gọi V. Vysotsky là “Volodia của toàn dân”! Tác phẩm của anh được gọi là “bách khoa toàn thư Liên Xô kiểu mới”!

Tập thơ – nhạc đầu tiên của người nghệ sĩ toàn dân này được ra đời sau cái chết. Người ta chỉ công nhận anh là nhà thơ vào thời cải tổ, được truy tặng giải thưởng nhà nước Liên Xô năm 1987. Từ năm 1990, bắt đầu một làn sóng nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp Vysotsky, nhiều ấn phẩm có giá trị đã được xuất bản.

Sống mãi với tình yê

Đọc những dòng viết cho anh trong trang lưu bút vẫn liên tục được viết ở nhà bảo tàng Vysotsky và được cập nhật trên website Vysotsky, thấy rõ, anh vẫn tiếp tục tồn tại trên đời, đối với công chúng, với những tình cảm yêu mến của họ dành cho anh.

Giọng hát khàn khàn có hơi thuốc của anh không thể lẫn với bất kỳ ai. Nó xoáy vào nhận thức của người ta, bằng tiếng ghita, bằng lời tự sự, như thể độc thoại, giữa một đám bạn bè thân, gan ruột cũng có thể dũng cảm phơi ra hết.

Giọng ca ấy có sức “công phá” mạnh với nhận thức và tình cảm của đồng bào anh, và cả những người ngoại quốc. Đó là câu chuyện về nhà báo người Nhật làm việc cho một tạp chí thời trang. Một lần, trong buổi trình diễn mốt quốc tế, anh thấy những người mẫu đi trên sàn catwalk cùng nhạc nền là tiếng hát một người Nga. Anh ta kể: “Tôi cảm thấy một cơn chấn động nhỏ trong mình, cảm giác kỳ lạ, vừa vui sướng vừa tuyệt vọng”. Ngay lập tức, anh đăng ký đi học tiếng Nga.


Và tất nhiên rồi, cả những người Việt Nam từng sống, học tập và làm việc ở Liên Xô cũ và LB Nga những thập kỷ 80, 90, cũng lưu giữ một Vysotsky cho riêng mình. Với tôi, gương mặt góc cạnh khắc khổ khó quên, giọng hát sâu xoáy kỳ lạ, câu chuyện tình yêu cuối đời, những trào lộng, hồi hộp, say mê, dằn vặt, đau đớn trong thơ…đã khiến tôi thấy nghẹn ngào khi viết những dòng này. Và cảm thấy một sự thấu hiểu và chia sẻ sâu sắc với đất nước vĩ đại mà trong quá khứ cũng gánh chịu đầy đau thương của anh.

Tôi muốn nhắc đến Marina Vlady, nữ nghệ sĩ người Pháp gốc Nga, người vợ cuối cùng của Vysotsky. Chuyện tình của họ, cũng như bất kỳ câu chuyện tình yêu đáng nhớ khác trên đời, là sự sắp đặt của định mệnh. Bấy giờ, Marina khá nổi tiếng ở Nga. Sau khi xem bộ phim “Phù thủy” (1956) do cô đóng vai chính, Vladimir đã rất yêu thích nghệ sĩ này. Anh sáng tác một bài hát vui nhộn và nhắc đến cô: “Tôi có mặt ở sở thú/ nhìn thấy hai người vợ/ Đấy, hai cô Marina Vladi/ mặc đồ bằng muông thú…”. Sau này, cuối những năm 60, khi họ đã gặp và yêu nhau nhờ liên hoan phim quốc tế Matxcơva lần thứ V, Marina đưa những đứa con riêng của mình sang Nga và rất muốn chúng học tiếng Nga. Những ngày đầu tiên bắt đầu làm quen với thứ tiếng này của quê hương người mẹ, chúng đã tìm được chính bài hát trên và vui sướng học hát, vì trong ấy có nhắc tên mẹ, không hề biết tác giả là V. Vysotsky. Nhưng Marina, khi nghe các cậu bé cất tiếng hát bài hát ấy, cô ngay lập tức nhận ra người đã viết nó!

Thời điểm ấy, Marina đã li dị chồng, sống cùng mẹ và ba đứa con, có nhà cửa to đẹp ở Pháp, lương cao. Cô chỉ có thể đến Nga ngắn hạn, theo đường du lịch hoặc công vụ. Còn Vladimir làm thủ tục chia tay với người vợ thứ hai, có hai đứa con. Anh về sống trong căn phòng 9 m2 ở nhà mẹ đẻ, nhận lương 150 rúp một tháng, không có cách nào ra nước ngoài. Bối cảnh ấy cho Marina thấy rằng, nếu lấy anh, hai người sẽ sống rất khó khăn. Nhưng tình yêu đã khiến cô hành động không còn tính toán.

Những ngày đầu, họ vô cùng hạnh phúc. Đây chính là thời gian Vysotsky làm được nhiều việc nhất. Anh diễn ở nhà hát, thu âm các vở kịch qua đài truyền thanh, đóng phim. Trong vòng mười năm, anh đóng trong hơn 10 bộ phim, trong đó có những bộ phim gây ấn tượng lớn cho khán giả như: “Tọa độ thẳng đứng” (1967), “Hai người đồng chí trong quân ngũ”, “Chúa tể rừng Taiga” (1968) và bộ phim dài tập “Điểm hẹn không thể thay đổi” (1979). Cũng thời gian ấy, Vysotsky tham gia hơn 1000 buổi biểu diễn ca nhạc!

Thế nhưng, cuộc sống của họ bắt đầu có những đám mây đen, khi Marina hiểu rằng, Vysotsky, một nghệ sĩ chân thành và nồng nhiệt, cũng lại rất dễ rơi vào trạng thái phấn khích hoặc những cơn rệu rã của tinh thần. Điều này dễ hiểu, bởi những áp lực mà Vysotsky từng chịu đựng. Về sau, Marina đã kể lại tất cả trong cuốn sách của mình. Cuốn sách thuộc thể loại hồi ký, nhưng dường như không viết cho độc giả, không viết cho ai cả, mà là cuộc trò chuyện giữa hai người. Đối diện. Đàm tâm. Không giấu giếm những cảm xúc riêng tư nhất, những ân ái, hoang mang, lạnh nhạt từng có, những thất vọng không tránh khỏi, những ghen tuông cay đắng… Marina nhắc lại với chồng về lần nghe anh thú nhận những cuộc tình thoáng qua của mình. Cô viết: “Đau đớn vì ghen tuông, em không hiểu được rằng, tất cả những điều đó là sự nỗ lực tuyệt vọng của anh muốn níu giữ cuộc sống, chứng minh cho bản thân rằng, anh vẫn còn tồn tại”. Marina hiểu ra những điều đó, sau khi nhớ lại từng khoảnh khắc Vysotsky đấu tranh với bản thân để giành lấy sự sống. Vysotsky uống nhiều rượu và nghiện thuốc lá. Khi trái tim của anh không chịu đựng được nữa những cú sốc của cuộc đời, bác sĩ bắt anh phải cai thuốc và rượu, thì lúc ấy, luôn có Marina bên cạnh. Cô chứng minh cho anh thấy không khó khăn gì bỏ những thói quen xấu. Cô cũng từng uống rượu và hút thuốc. Nhưng cô bỏ, một cách dễ dàng. Vysotsky lại gần như rơi vào cảm giác thất bại và trầm cảm vì sự mạnh mẽ của cô và sự yếu đuối của bản thân!

25-7-1979, ngay trên sàn sân khấu tại Bukhara, Vysotsky đã ngã gục. Bác sĩ tiêm cho anh một mũi trợ tim, thì anh tỉnh lại. Tròn một năm sau, cũng đúng ngày ấy, 25-7-1980, cuộc gặp gỡ với Thần chết đã được định đoạt.

Hẳn Vysotsky không ngờ được rằng, ngày anh mất, đúng vào thời gian diễn ra Thế vận hội Olimpic Matxcơva 1980, không một dòng phân ưu chính thức trên báo chí, mà cả Matxcơva tạm gác niềm vui Olimpic lại để đến với anh, để đắm chìm vào nỗi ngậm ngùi chia tay với người nghệ sĩ yêu mến của họ.

Chính quyền muốn mai táng anh ở một nghĩa trang cách xa thành phố. Nhưng vợ anh và bạn bè đã phản đối. Họ cho rằng, anh xứng đáng nằm lại lòng Matxcơva. Theo lời kể của Marina, ca sĩ nổi tiếng Iosif Kobzon đã đến nghĩa trang Vagankovsky, và .. thử hối lộ người phụ trách nghĩa trang bằng một tờ 100 rúp. Ông này giãy nảy: “Làm sao các anh lại nghĩ tôi nhận tiền? Tôi cũng yêu mến Vysotsky!”. Và ông đã giành cho người nghệ sĩ tài hoa một nơi an nghỉ thật đẹp, chính giữa nghĩa trang, gần cổng vào. Người phụ trách nghĩa trang sau này bị cách chức.

Nhưng có lẽ ông ta không buồn, vì địa điểm ông dành cho nghệ sĩ đã trở thành một địa chỉ văn hóa của nước Nga. Cho đến bây giờ, trên mộ Vysotsky vẫn luôn có những lẵng hoa tươi kèm những bài thơ trần tình tha thiết, viếng hương hồn nhà thơ. Thậm chí, có chàng thanh niên còn để lại một chiếc đàn ghi ta…

Phải rồi. Chiếc đàn ghi ta là hình ảnh của anh, người nghệ sĩ hát thơ.

Nguồn: Vietnamnet. 10-2009
"Xin anh đừng hỏi vì sao
Tên anh em để lẫn vào trong thơ..."
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook