Hải đảo ở trong ta
Đã có tự muôn đời
Lâu rồi ta quên lãng…
Phiền não tận trùng khơi

Hải đảo ở trong ta
Kho báu của vĩnh hằng…
Ngây thơ ôm bọt sóng
Ta nửa đời đi hoang

Ôi hải đảo tâm linh!
Ta tỉnh thức quay về
Dừng tâm là thấy bến
Thôi rong ruổi si mê

Ôi hải đảo tâm linh!
Như mùa xuân thanh bình
Như tình thương của mẹ...
Lãng tử về chốn xưa.


Nguồn: Tuệ Thiền, Đường về minh triết, NXB Văn nghệ, 2007

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Hải đảo trong ta

* (Các chỗ chữ in hoa do tôi cảm hứng nhấn mạnh).

* “Cái mà đức Chúa Giê-su gọi là Nước Chúa, các đức Phật gọi là Niết-bàn, cái đó tôi gọi là SỰ SỐNG TỈNH THỨC”. (Danh nhân giác ngộ Jiddu Krishnamurti, người không theo tôn giáo nào  cả, được Liên Hiệp Quốc và nhiều nhân vật danh tiếng - trong đó có ngài Đạt Lai Lạt Ma, nhà khoa học David Bohm - tôn vinh. Ngài sinh ngày 12/5/1895 tại Ấn Độ, mất ngày 17/2/1986 tại Mĩ).

* Trích đoạn trong Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu (E-rơ-nơ Mun-đa-sep - giáo sư tiến sĩ y học (Nga), nhà bác học lớn quốc tế; dịch giả: Hoàng Giang; nxb Thế Giới, 2009):
“Tôi và Va-lê-ri Lô-ban-cốp (chuyên gia vật lí trường) thảo luận nhiều về đề tài này. Dưới đây tôi xin trình bày kết quả của những cuộc thảo luận đó.
(...) Dần dà trong quá trình tiến hoá trong thế giới tế vi XUẤT HIỆN ĐU-KHƠ - là khối năng lượng tâm thần kết đông dưới dạng các trường xoắn, có thể bảo toàn vĩnh cửu trong mình một khối lượng thông tin to lớn. Nhiều đu-khơ tạo thành giữa chúng những mối liên hệ thông tin và tạo ra KHÔNG GIAN THÔNG TIN TOÀN THỂ, tức Cõi kia (…).
(…) Cùng với sự tạo ra con người bằng nỗ lực của thế giới tế vi (Cõi kia), các dạng sự sống đơn giản hơn cũng được tạo nên ở thế giới vật thể - con vật, côn trùng, cây cỏ v.v… Nguyên lí tạo thế giới thực vật và thế giới động vật vẫn như vậy - bằng cách cô đặc dần các dạng trường xoắn đơn giản hơn của Cõi kia.
Liệu con người trong thế giới vật thể có thể sống thiếu Cõi kia không? Sau khi tạo bộ gen và nhờ đó tiến hành quá trình tái tạo con người (sinh đẻ đứa trẻ) trên Trái đất, đu-khơ giữ lại cho mình chức năng tư duy chủ yếu. Trong quan niệm tôn giáo, sau khi đứa bé chào đời đu-khơ nhập vào đứa trẻ và ấn định những năng lực tư duy chủ yếu của con người. Nghĩa là, CHÚNG TA SUY NGHĨ CHỦ YẾU NHỜ VÀO ĐU-KHƠ SỐNG Ở THẾ GIỚI TẾ VI. Nhờ năng lượng thế giới vật thể (ăn uống), não người có khả năng vặn các trường xoắn của thế giới tế vi và như vậy hỗ trợ đu-khơ trong quá trình tư duy. Ngoài ra, não còn tạo các trường xoắn phụ hình thành đu-sa (sinh trường) ở dạng các thể thanh bai và các thể khác hỗ trợ cơ thể người hoạt động. Sau khi xác thân chết, nhiều bộ phận tạo thành đu-sa (các thể thanh bai) cũng bị phá huỷ, CÒN LẠI ĐU-KHƠ THÌ BAY VỀ CÕI KIA và tiếp tục sống ở thế giới tế vi để rồi lúc nào đó lại bước vào kiếp mới. Vậy là con người, sau khi được tạo ra trong thế giới vật thể nhờ các “nỗ lực” của thế giới tế vi, LÀ SỰ KẾT HỢP các hình thái sự sống ở thế giới vật thể và thế giới tế vi.
Mọi ngưòi đều biết rõ khái niệm KARMA (NGHIỆP), tức là các “vết tích” của các tiền kiếp để lại trong đu-khơ. Giai đoạn trần thế ở thế giới vật thể, ĐU-KHƠ CÓ THỂ HOÀN THIỆN MÀ CŨNG CÓ THỂ THOÁI HOÁ. (…) Chính con người khác biệt với con vật ở chỗ: bộ máy tư duy của con người có nhiệm vụ hoàn thiện đu-khơ (đưa vào đó nhiều thông tin xây dựng) và bằng cách đó, hoàn thiện hình thái sự sống ở thế giới tế vi. Nói cách khác, là đứa con thể xác của sự sống nơi thế giới tế vi, CON NGƯỜI CÓ SỨ MỆNH thông qua thế giới vật thể THÚC ĐẨY SỰ TIẾN BỘ nơi thế giới tế vi. Con người được tạo ra cũng là bởi lẽ đó.
Rõ ràng là, về tầm mức, HÌNH THÁI SỰ SỐNG nơi thế giới tế vi (Cõi kia) cao hơn đáng kể so với sự sống ở thế giới vật thể. ĐU-KHƠ BẤT TỬ là một xác nhận.
(…) Nền khoa học hiện đại đã đạt tới tầm mức nhận thức được tôn giáo và hiểu rằng, học thuyết con người phát sinh từ con khỉ của Đác-uyn quá thô thiển, còn tôn giáo chẳng là cái gì khác ngoài một cách trình bày phóng dụ tri thức của các nền văn minh cổ đại.
(…) Tôi tuyệt đối tin rằng sự sống vật thể trên trái đất đã được tạo ra bằng cách hồn cô đặc dần. Mọi học lí cho rằng, sự sống trên trái đất xuất hiện do những phân tử phức tạp tự phát sinh và cô đọng thành những cơ thể sống, không vững vàng, xét cả trên quan niệm tôn giáo lẫn quan điểm vật lí học và hoá học hiện đại”.

* “TRƯỜNG Ý THỨC LÀ CƠ SỞ của mọi hiện tượng trong Tự nhiên, bởi vì KHE HỞ TỒN TẠI GIỮA mọi electron, MỌI Ý NGHĨ, mọi khoảnh khắc thời gian. KHE HỞ LÀ điểm khống chế, SỰ TĨNH LẶNG Ở TÂM của sáng tạo, nơi vũ trụ liên kết mọi sự kiện. (…) Chúng ta cần nhớ NGUỒN GỐC CHUNG của mình. Tinh thần con người suy thoái khi chúng ta hạn chế mình trong một kiếp người và giam trong một thể xác. Trước hết chúng ta là tâm trí và tinh thần (…)”. (Sự Sống Sau Cái Chết – Gánh Nặng Chứng Minh; Deepak Chopra-tiến sĩ y học; dịch giả: Trần Quang Hưng). (Ngài D.Chopra gọi là: khe hở, sự tĩnh lặng ở tâm, trường ý thức, trường tiềm năng..., thì Thiền học gọi là: Tâm Không, Tánh Không, tâm vô ngôn, vô niệm (niệm chân như vô nhị tướng), chân niệm, niệm hiện tiền, niệm đang là, niệm hiện tại, tự tánh, tánh giác, bổn lai diện mục, Phật tánh, Viên Giác, pháp thân, pháp giới, Như Lai tạng... - chú thích của người đọc).

* (Xin mời đọc thêm ở phần dưới).

Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Hải đảo trong ta (tiếp theo)

* (Những chỗ chữ in hoa do người đọc - Tuệ Thiền Lê Bá Bôn - cảm hứng nhấn mạnh).
--
* Một ngày nào đó của thiên niên kỉ thứ 3, con người sẽ hỏi đâu là sự khám phá quan trọng nhất của thế kỉ 20 đối với nền văn minh Tây phương, khi ấy câu trả lời không phải là sự khám phá ra năng lượng nguyên tử, cũng không phải là sự khám phá ra những vũ trụ song đối, mà chính là sự khám phá về trạng thái tự do tối thượng của BẢN THỂ CON NGƯỜI. (Question de Albin Michel số 77/1989; Nguyễn Thế Đăng dịch).

* Tuyên ngôn Venise của UNESCO nói: “Khoa học hiện đại đã tiến đến một biên giới, nơi đó sự gặp gỡ của khoa học Tây phương với MINH TRIẾT truyền thống tâm linh Đông phương là điều tất yếu. Sự gặp gỡ chắc chắn xảy ra đó sẽ đem lại cho nhân loại một nền văn minh mới”. (Báo Giác Ngộ số 15/1991).

* (…) Kết luận được rút ra từ thí nghiệm này là hết sức đặc biệt: con lắc Foucault điều chỉnh hành trạng của nó không phải theo môi trường tại chỗ của nó, mà là theo các thiên hà xa xôi nhất, nghĩa là theo toàn vũ trụ, bởi vì hầu hết khối lượng nhìn thấy của vũ trụ không phải nằm trong các ngôi sao ở gần mà trong các thiên hà xa xôi. Nói cách khác, cái được chuẩn bị xảy ra ở Trái đất đã được quyết định trong khoảng vô tận của vũ trụ, nghĩa là cái đang xảy ra trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta phụ thuộc vào tổng thể các cấu trúc của vũ trụ.
Tại sao con lắc Foucault lại có hành trạng như vậy? Cho tới nay người ta vẫn chưa tìm ra câu trả lời. Nhà triết học và vật lí học người Áo Ernest Mach (mà tên của ông đã được dùng làm đơn vị đo các vận tốc siêu thanh) đã thấy ở đó một loại hiện diện khắp nơi của vật chất và ảnh hưởng của nó. Theo ông, khối lượng của một vật - đại lượng đo quán tính của nó, tức là khả năng chống lại sự thay đổi trạng thái chuyển động - là kết quả tác động của toàn vũ trụ lên vật này. Đây là cái mà người ta gọi là nguyên lí Mach. Khi người ta cố sức đẩy một cái xe ôtô, thì sự chống lại chuyển động của ôtô xuất phát
từ toàn bộ vũ trụ. Mach chưa bao giờ trình bày một cách chi tiết sự tác động bí ẩn đó của toàn vũ trụ và sau này cũng chưa có ai làm được. Cũng giống như thí nghiệm EPR đã xác lập điều đó đối với thế giới nội nguyên tử, thí nghiệm con lắc Foucault buộc chúng ta phải chấp nhận rằng trong thế giới vĩ mô có tồn tại một mối tương tác có bản chất hoàn toàn khác với những tương tác mà vật lí hiện nay đã mô tả; tương tác này
không làm xuất hiện lực và cũng như không có sự trao đổi năng lượng, nhưng nó gắn kết toàn bộ vũ trụ với nhau. MỖI BỘ PHẬN ĐỀU MANG TRONG NÓ TÍNH TỔNG THỂ và mỗi một bộ phận đều phụ thuộc vào những bộ phận còn lại.
(…) Sự phụ thuộc lẫn nhau của các hiện tượng = trách nhiệm toàn vũ trụ. Một phương trình thật cân bằng.
(…) William Blake đã diễn tả một cách hoàn hảo tính tổng thể của vũ trụ bằng các câu thơ sau:
“Trong hạt cát ta thấy cả vũ trụ
Trong đoá hoa dại ta thấy cả thiên đường
Nắm cái vô hạn trong lòng bàn tay
Và sự vĩnh hằng trong khoảnh khắc”.
(Trịnh Xuân Thuận-nhà vật lí thiên văn. “Cái vô hạn trong lòng bàn tay”; đồng tác giả: Mathieu Ricard; Phạm Văn Thiều & Ngô Vũ dịch).

* Nền vật lí này bây giờ đã thấy vũ trụ là MỘT MẠNG LƯỚI với những liên quan vật chất và tâm linh chằng chịt, mà các phần tử chỉ được định nghĩa trong mối tương quan với cái toàn thể. (Fritjof Capra-nhà vật lí học. “Đạo của vật lí”; Nguyễn Tường Bách dịch).

* Đức Đạt Lai Lạt Ma cho rằng: “Nếu người ta xem xét Thượng Đế không phải trên phương diện thần thánh cá nhân, mà là với tư cách là nền tảng của bản thể, thì các phẩm chất như lòng vị tha có thể được gắn với NỀN TẢNG THIÊNG LIÊNG NÀY CỦA BẢN THỂ. Nếu người ta phải hiểu Thượng Đế theo cách này thì sẽ có thể xác lập được những mối quan hệ gần gũi giữa một số yếu tố của tư duy và sự thực hành Phật giáo”. (Mathieu Ricardnhà sinh học, tu sĩ Phật giáo. Sách đã dẫn-đồng tác giả: Trịnh Xuân Thuận).

* Tất cả các tôn giáo đều gọi tên THƯỢNG ĐẾ theo ngôn ngữ của mình. (Simone Weilnhà triết học, nhà thần bí học Kitô giáo).

* Các nhà khoa học cũng đang quay lại và hướng sự tập trung vào việc tìm hiểu cách thức suy nghĩ và trạng thái của chúng ta THỰC SỰ ẢNH HƯỞNG đến lực từ trường bên trong và xung quanh chúng ta. (Karen Nesbitt Shanor-tiến sĩ sinh học.”Trí tuệ nổi trội”; Vũ Thị Hồng Việt dịch).

* Masuru Emoto và các cộng sự đã phát hiện ảnh hưởng của NĂNG LƯỢNG TÂM Ý đối với cấu trúc và chất lượng nước dùng làm thí nghiệm. (Báo Giáo Dục & Thời Đại Chủ Nhật số 47 năm 2006).

* (Người đọc nhớ Kinh Thánh có nói rằng: Nước Đức Chúa Trời có mặt ở trong mỗi người. Đạo Phật thì nói: Vạn pháp (thế giới hiện tượng) do tâm tạo; tâm vô ngã là Niết-bàn. Nhiều nhà khoa học nói: Trường ý thức là cơ sở của mọi hiện tượng trong tự nhiên (vũ trụ)... Đó là điểm gặp nhau của một cấp độ trí tuệ nào đó, rất đáng cho chúng ta suy ngẫm về vấn đề trí tuệ-tâm linh).

(Còn tiếp)

Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Hải đảo trong ta (tiếp theo)

* (…) Ở đây chúng ta có thêm một chứng minh là tất cả chúng ta được kết nối với nhau trong cùng một trường ý thức. Các đặc tính của trường này vận hành LÚC NÀY VÀ Ở ĐÂY:
Trường hoạt động như một tổng thể.
Nó liên kết các sự kiện cách xa ngay tức thời.
Nó nhớ mọi sự kiện.
Nó tồn tại ngoài thời gian và không gian.
Nó sáng tạo toàn vẹn bên trong mình.
Sáng tạo của nó lớn lên và mở rộng theo hướng tiến hoá.
Nó là ý thức.
(…) TRƯỜNG Ý THỨC là cơ sở của mọi hiện tượng trong tự nhiên bởi vì KHE HỞ TỒN TẠI GIỮA mọi electron, MỌI Ý NGHĨ, mọi khoảnh khắc thời gian. KHE HỞ là điểm khống chế, SỰ TĨNH LẶNG Ở TÂM của sáng tạo, nơi vũ trụ liên kết mọi sự kiện.
(…) Chúng ta cần nhớ NGUỒN GỐC CHUNG của mình. Tinh thần con người suy thoái khi chúng ta hạn chế mình trong một kiếp người và giam trong một thể xác. Trước hết chúng ta là tâm trí và tinh thần, và điều đó đặt ngôi nhà của chúng ta ra sau các vì sao. (Deepak Chopra-tiến sĩ y học, nhà nghiên cứu tâm linh. “Sự sống sau cái chết: gánh nặng chứng minh”; Trần Quang Hưng dịch). (Ngài D.Chopra gọi là: khe hở, sự tĩnh lặng ở tâm, trường ý thức, trường tiềm năng..., thì Thiền học gọi là: Tâm Không, Tánh Không, tâm vô ngôn, vô niệm (niệm chân như vô nhị tướng), chân niệm, niệm hiện tiền, niệm đang là, niệm hiện tại, tự tánh, tánh giác, bổn lai diện mục, Phật tánh, Viên Giác, pháp thân, pháp giới, Như Lai tạng... - chú thích của người đọc).

* TRI HUYỄN tức li, li huyễn tức giác. (Kinh Viên Giác). (TRI HUYỄN là nghe và thấy rõ mọi động niệm của tâm ý. Nghe và thấy rõ vọng tưởng thì vọng tưởng tự tịnh, tánh Viên Giác hiện tiền). (Tánh Viên Giác là Tánh Không. Tánh Không là nền tảng bản thể của vũ trụ, là trường ý thức-trường tiềm năng).

* Tột trước cùng sau trở về NIỆM HIỆN TIỀN. (Kinh Lăng Già Tâm Ấn. Bản dịch của Thiền sư Thích Thanh Từ).

* TỰ TRI là thấy mình, nhìn thấy tâm trí mình từ giây phút này đến giây phút khác trong lăng kính của tương giao tương hệ của mình đối với tài sản, đối với những sự việc, đối với con người, đối với những ý tưởng… (…) Đây là việc chính yếu: khi mà tôi chưa hiểu được mình, tôi không thể có được căn bản để suy tư, và tất cả sự tìm kiếm của tôi chỉ là vô vọng hão huyền. (…) Chính sự kiện ý thức trực tiếp về hiện thể (cái đang là) là chân lí rồi. (…) Đừng phân tích tâm thức để tâm trí tĩnh lặng. (Thiền sư Jiddu Krishnamurti) – (Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng; J.Krishnamurti; dịch giả: Phạm Công Thiện).

* Schrodinger, tác giả của phương trình cơ bản trong Thuyết lượng tử đã phát biểu: “Muôn đời và mãi mãi chỉ có bây giờ... HIỆN TẠI là cái duy nhất không có kết thúc”. (Theo Giáo sư-viện sĩ Đào Vọng Đức, nguyên viện trưởng Viện Vật lí, nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người về Khoa học và Tâm linh. Bài phỏng vấn “Khoa học lí giải Tâm linh như thế nào?”; Khoahoc tv).

* Bản ngã (cái “tôi”) là một ảo tưởng, là kết quả của BỘ NÃO BỊ QUY ĐỊNH, bị chương trình hoá. (Giáo sư tiến sĩ vật lí David Bohm).

* Sống thì vượt ngoài thời gian (thời gian tâm lí, tức là cái “tôi” tâm lí-vọng tưởng), SỐNG LÀ HIỆN TIỀN SINH ĐỘNG, nhưng hiện tiền này không lệ thuộc vào thời gian (tâm lí). SỐNG LÀ CHÚ TÂM (tỉnh thức), không nằm trong biên cương của tư tưởng, trong giới hạn của cảm thức. Từ ngữ dùng để thông tin và, cũng như hình tượng, ngay chính chúng không có một ý nghĩa (thực tại) nào. Cuộc đời luôn luôn là hiện tiền sinh động, thời gian (tâm lí) luôn luôn thuộc vào quá khứ, và vì thế vào tương lai. Để cho thời gian (tâm lí) chết đi tức là sống trong HIỆN TIỀN. Chính lối sống này là BẤT TỬ, chứ không phải cách sống trong ý thức. Thời gian (tâm lí) là tư tưởng trong tâm thức, tâm thức thì bị đóng khung. Mạng lưới của tư tưởng, của cảm thức, luôn luôn hằn dấu sợ hãi, đau khổ. Đau khổ sẽ chấm dứt khi thời gian (tâm lí) chấm dứt. (Jiddu Krishnamurti. Trích trong Bút Hoa-nhật kí; dịch giả: Ẩn Hạc). (Những chữ trong ngoặc đơn do người đọc ghi chú).

* Này thiện tri thức, nếu trong các ông hàng hữu học, mỗi lần niệm khởi trong tâm, hãy HỒI QUANG PHẢN CHIẾU (TẬN NGUỒN TÂM). Khi niệm diệt trong tâm, sự phản quán tâm cũng tự diệt, đó là VÔ NIỆM. Vô niệm hoàn toàn thoát ngoài các duyên ngoại cảnh, bởi vì nếu còn có cảnh duyên nào thì không thể là vô niệm được. (…) Nếu khởi chánh chân Bát-nhã quán chiếu thì trong khoảng một sát-na vọng niệm đều diệt. Nếu biết TỰ TÁNH, một phen ngộ tức đến quả vị Phật. (…). Nếu để cho tâm chẳng nghĩ gì hết, đó là diệt niệm, tức bị pháp trói buộc, gọi là thấy một bên. (Lục tổ Huệ Năng) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; dịch giả: Thuần Bạch).

* Theo Lục Tổ, Bát-nhã là tên đặt cho TỰ TÁNH HOẶC VÔ NIỆM, khi Tự tánh tự nhận biết mình, hoặc đúng hơn là hành vi tự nhận biết chính mình. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; dịch giả: Thuần Bạch).

* Nếu GIÁC NGỘ đã làm cho toàn thể vũ trụ rung chuyển sáu cách khác nhau như kinh
chép, thì vô minh khi chưa bị hàng phục ắt vẫn có đủ thần lực ấy, dầu rằng vì bản chất
và hiệu lực, thần lực ấy diễn ngược lại hẳn với giác ngộ. (Daisetz Teitaro Suzuki-thiền
sư học giả. “Thiền luận I”; Trúc Thiên dịch).

* NGỘ là một hình thái của tri giác, một thứ TRI GIÁC NỘI TẠI, PHÁT HIỆN TRONG PHẦN SÂU THẲM NHẤT CỦA Ý THỨC. Đó là ý nghĩa của đặc tính TỰ TRI; tức là SỰ THỰC TỐI HẬU. Cho nên người ta thường bảo rằng Thiền giống như uống nước, nóng hay lạnh tự người uống biết lấy. (Thiền sư cư sĩ Daisetz Teitaro Suzuki. Thiền Luận - quyển trung, luận I; dịch giả: Tuệ Sỹ). (Một số nhà khoa học gọi TRƯỜNG Ý THỨC là trường điểm không, trường tiềm năng, trường của trường, trường thống nhất, trường năng lượng, trường trí tuệ... - chú thích của người đọc).

* (…) Sự sống và cái chết thay đổi luôn là để nhanh chóng thay con người độc ác, ích kỉ và hám danh bằng một người khác với hi vọng, sau khi con người ở Cõi kia bị thần linh “trừng phạt” sẽ đầu thai tái sinh trở thành người tốt hơn, thiện hơn. Vì vậy có lẽ huyền thoại về địa ngục và thiên đường có cơ sở.
(…) Thầy Đa-ram nói: Năng lượng linh hồn là năng lượng ở ngoài electron và ngoài proton. Nhưng TÂM NĂNG MẠNH MẼ VÔ CÙNG, nó có khả năng tác động lên lực hấp dẫn. Năng lượng của nhiều tâm có một sức mạnh lớn lao. Có tâm năng tích cực và tâm năng
tiêu cực, chúng gắn liền với nhau.(…) Tâm năng tiêu cực (xấu ác) có thể thu hút các đối tượng phá phách của vũ trụ, tác động lên thiên nhiên. Bởi vậy, cùng với xung
đột và chiến tranh, khá thường xuyên xảy ra động đất, rơi thiên thạch….
(…) Chúng ta cần nhớ rằng, lòng thiện và tri thức sẽ thúc đẩy quá trình hiện thực hoá dự báo tích cực về sự phát triển của loài người; còn cái ác và thói hám quyền có thể dẫn đến thảm hoạ toàn cầu trong tương lai, kể cả ngày tận thế, hoặc tạo điều kiện phát triển yếu tố thụt lùi, dẫn đến hoá hoang.
(…) Tôi tin rằng, trong tương lai, những lực lượng tích cực trên Trái đất sẽ áp đảo lực lượng tiêu cực và sẽ không có thảm hoạ toàn cầu. (Erơnơ Munđasep-giáo sư tiến sĩ y học, nhà bác học lớn quốc tế. “Chúng ta thoát thai từ đâu”; Hoàng Giang dịch).

* “TỰ TRI-TỈNH THỨC-VÔ NGÔ là đạo lí của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả.
(…) Viên mãn “tự tri-tỉnh thức-vô ngã” rất khó, nhưng chỉ có hướng đến đó mới xây dựng được mẫu số chung cho nhân cách, cho ý nghĩa cuộc sống. Chỉ có hướng đến đó
mới tạo nên tiếng nói chung cho hoà bình, công bằng, nhân ái - thật sự biết tôn trọng nhau giữa người với người.
(…) “Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là minh sư vĩ đại nhất của chính mình.
(Đường Về Minh Triết; Tuệ Thiền Lê Bá Bôn; nxb Văn Nghệ, 2007; Thuvienhoasen org-có phần bổ sung, có bảng mục lục ở cuối file).
-------------------
HƠI THỞ MINH TRIẾT
(Bài thực hành)

Thở vào, cảm nhận hơi vào
Thở ra, cảm nhận hơi ra
Chú tâm lắng nghe hơi thở
Vọng tâm vọng tưởng dần xa

Toạ thiền hoặc không toạ thiền
Miễn sao ngồi thật an nhiên
Thở đều, hơi dài và nhẹ
Vơi bao nghiệp chướng ưu phiền

An định: dễ thấy cái “tôi”
Cái khuôn tâm não tháo lơi
Tự tri là gốc minh triết
Tỉnh thức vô ngã chiếu soi

Thở vào, cảm nhận hơi vào
Thở ra, cảm nhận hơi ra
Chú tâm lắng nghe hơi thở
Trí tuệ tâm linh thăng hoa

Y học có nhiều chứng minh
Công năng của hơi-thở-thiền
Nhân điện điều hoà cơ thể
Năng lượng vũ trụ diệu huyền

Vật lí có nhiều chứng minh
Tâm năng của hơi-thở-thiền
Lan toả duyên lành vô tận
Thiện ích khắp nẻo chúng sinh

Thở vào, lắng nghe hơi vào
Thở ra, lắng nghe hơi ra
Dần dần biết nghe vọng tưởng
Chân Tâm cực lạc khai hoa… (*)
--------
(*): “Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả.
“Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là minh sư vĩ đại nhất của chính mình.
TT LBB
---------------

Chưa có đánh giá nào
Trả lời