Nguyễn Đề 阮提 (1761-1805), huý là Nễ, tự Nhất Quế, hiệu Quế Hiên 桂軒 (gia phả ghi là Quế Hiên công), sau đổi tên là Đề, tự Tiến Phủ, hiệu Tỉnh Kiên, biệt hiệu Văn thôn cư sĩ, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con thứ sáu của Xuân quận công Nguyễn Nghiễm (1708-1755) và Trần Thị Tần (1740-1778), và là anh cùng mẹ với Nguyễn Du. Nhờ cha làm quan lớn (tể tướng), nên những năm tháng thiếu thời, ông sống khá yên vui cùng các anh em trong một cơ ngơi bề thế ở phường Bích Câu, trong kinh thành Thăng Long. Ông để lại 374 bài thơ chữ Hán.

Tác phẩm:
- Quế Hiên giáp, ất tập (Tập thơ Quế Hiên, I và II)
- Hoa trình tiêu khiển tập (Tập thơ tiêu khiển trên đường đi sứ)

Thơ Nguyễn Đề đã được tuyển dịch và xuất bản lần đầu vào năm 1995 do NXB Khoa học Xã hội ấn hành với tựa sách Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đề, chủ biên Nguyễn Thị Phượng.