Các câu ca dao: “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương; Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”; “Trên trời mây trắng như bông/ Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây”; “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ”...  và rất nhiều câu thơ khác, từ 60 năm nay đã trở nên rất quen thuộc với mỗi người Việt Nam.

Quen thuộc đến mức trở thành câu cửa miệng, trở thành lời ăn tiếng nói của nhân dân. Nhưng rất ít người biết ai đã sáng tác ra những câu ca ấy, ai là tác giả của những câu thơ “đượm màu dân gian” ấy. Tôi cũng vậy, trước khi rời ghế nhà trường, trước lúc được vinh hạnh gặp gỡ và quan hệ công tác với những Thanh Tịnh, Ngô Văn Phú, Bảo Định Giang… cứ ngỡ đó là những câu ca dao khuyết danh, những câu do “quần chúng” nhân dân lao động làm ra.

Trở lại với câu ca: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ”, tôi nhớ quãng năm 1976, 1977 trên báo Cứu quốc (nay là Đại đoàn kết, tôi có viết một bài nói về lòng dân các dân tộc Việt Nam với Bác Hồ qua thơ ca dân gian, nhà thơ Bảo Định Giang đọc được có nhắn lại qua một người bạn vong niên của tôi đang công tác tại Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (cơ quan mà nhà thơ có thời là Phó Chủ tịch) rằng tôi đã trích sai chữ “bông sen” thành “hoa sen”, chữ “Cụ Hồ” thành chữ “Bác Hồ” trong câu thơ “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”… của ông.

Thì ra ông, nhà thơ Bảo Định Giang, tác giả của những câu thơ mà đám học sinh, sinh viên lứa cuối những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỷ XX thường chép vào sổ tay lưu bút của nhau mỗi khi tiễn nhau ra trận, đồng thời là một ông “quan văn nghệ đỏ”, một “Tố Hữu của Nam Bộ” (bởi ông từng giữ các trọng trách: Vụ phó Vụ Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng biên tập Báo Văn nghệ, Tổng biên tập NXB Văn nghệ giải phóng, Phó Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam…) chính là tác giả của câu ca dao bất hủ viết về Tháp Mười, về Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Về sau, khi đã chuyển công tác và vào định cư trong thành phố Hồ Chí Minh, nhà thơ Bảo Định Giang vẫn thường xuyên thư từ, gửi sách báo ra Hà Nội cho tôi. Khi gửi tặng tôi tập Trong mỗi trái tim (gồm 28 bài thơ, 4 đoạn văn viết về Đảng, về Bác Hồ và những đồng chí trung kiên của Thành đồng Tổ quốc), ông có nhắc tôi đọc kỹ “cái xuất xứ” của câu ca dao trên. Ông cho biết nguyên bài thơ có tên là bài Đẹp nhứt:
Tháp Mười đẹp nhứt bông sen
Việt Nam đẹp nhứt có tên Cụ Hồ
Và kể: Dạo ấy là mùa hè năm 1946, sau lần gặp đồng chí Lê Duẩn lúc ấy là Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ, được đồng chí căn dặn nhiều điều, trong đó có việc phải nói rõ  cho đồng bào biết về Cụ Hồ mà trước đó, chính ông cũng mới hiểu được về Người rất ít, ông đã viết nhiều thơ, kịch và đi tuyên truyền nhiều nơi về Bác Hồ. Ông sinh năm 1919, lúc đó mới ngoài 20 tuổi, đang là cán bộ ban Tuyên truyền lưu động Chiến khu 8 thuộc Tuyên huấn Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

Ông kể tiếp: “Một hôm tại nhà một bà cụ nông dân, sáng dậy sớm, tôi ra ngồi trên chiếc võng, vấn thuốc lá hút, để mắt phóng ra cánh đồng sau nhà. Đã bình minh, mặt trời vừa hé mọc. Trước mắt tôi hiện ra một cánh đồng sen bát ngát. Hàng nghìn, hàng vạn đoá sen hồng đong đưa trong gió sớm sao mà đẹp khác thường. Lòng tôi bỗng rạo rực xúc động khó tả trước cảnh vật bất chợt, tình cờ, tôi ngẫu hứng se sẽ ngâm:
Tháp Mười đẹp nhứt bông sen
Việt Nam đẹp nhứt có tên Cụ Hồ
Bông sen dành để lễ chùa
Cụ Hồ mãi mãi tôn thờ trong tâm
Bài ca này sau đó được truyền miệng, được in trên sách báo phổ biến khắp vùng Đồng Tháp Mười. Và năm sau, 1948, tôi có nhờ phái đoàn anh Trần Văn Trà đem ra Việt Bắc tặng Trung ương Đảng một tập thơ chép tay, trong đó có bài thơ này. Có điều rất thú vị là nhiều nơi hồi đó, kể cả Việt Bắc, khi đăng lên báo người ta đã bỏ hai câu thơ cuối của bài thơ. Cho đến nay, nhiều sách báo cũng chỉ in hai câu thơ đầu, coi như thế là gọn và đầy đủ ý nghĩa. Ca dao xưa nay bao giờ cũng vậy. Nó sống được, tốt thêm là nhờ đông tay chăm sóc và mỗi người đều có quyền sửa chữa, thêm bớt cho đến lúc viên mãn mới thôi.”

Đúng như lời tâm sự của nhà thơ, bài ca dao ông sáng tác trên đất Tháp Mười, ngay bên cạnh tháp Đốc binh Kiều năm ấy, trải hơn nửa thế kỷ vẫn sống “tốt thêm” và thật đã “viên mãn”. Nó không chỉ là niềm tự hào của người dân Đồng Tháp Mười, của người dân Nam Bộ mà còn là niềm tự hào của văn chương một thời. Nó đã là câu thơ vượt thời gian, đi cùng năm tháng, trở thành thơ dân gian, thuộc về nhân dân.

Nhà thơ Thanh Tịnh – một nhà thơ miền Nam tập kết ra Bắc như nhà thơ Bảo Định Giang thuở nào từng ao ước: “Ước gì để lại mùa sau/ Một câu một chữ đượm màu dân gian”. Câu ước ao đó hôm nay với ông đã trở thành hiện thực. Dẫu ông đã đi xa, đã về mãi cùng đất mẹ, nhưng tác phẩm của ông đã hoà vào cùng dân gian, cùng dân tộc để sống và để trường tồn. Và như vậy nơi chín suối chắc nhà thơ cũng được ngậm cười.

Ngô Vĩnh Bình

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]