Một độc giả của Thi Viện là Ô. Trần Đông Phong có ý định sẽ xuất bản một tập thơ dịch thơ Pháp nhân dịp kỷ niệm 40 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Pháp và mượn Thi Viện để thông báo. Ông sẽ chịu toàn bộ chi phí và làm chủ biên, tuyển chọn với số lượng 40 bài. Mỗi dịch giả có bài in sẽ được nhận 05 bản miễn phí, ai có nhu cầu hơn sẽ thỏa thuận trên cơ sở chi phí xuất bản in ấn thực. Chủ biên giữ quyền đăng ký, xuất bản in và tái bản.
Trân trọng kính mời các thi sĩ, dịch giả tham gia, gửi bài với chi tiết như sau: - Đầu đề: Tuyển tập thơ Pháp dịch Iris dáng mong manh / Fragiles Iris - Mỗi dịch giả được in một bài, có thể gửi hơn một bài để chọn. - Thời gian nhận bài trước 10/10/2013. - Nội dung: + Bài thơ Pháp nguyên tác + Bài thơ dịch tiếng Việt + Tóm tắt giới thiệu tác giả Pháp + Tóm tắt tiểu sử dịch giả + Dịch giả chịu trách nhiệm về nội dung và bản quyền - Liên hệ: + Email: dongphong_tran@yahoo.com + ĐT: 0985826069
Dưới đây là một bài Ô. Trần Đông Phong đã dịch và nhờ TV đăng để mọi người tham khảo.
Antoine de Saint-Exupéry (1900-1944), tên đầy đủ Antoine Marie Jean-Baptiste Roger de Saint-Exupéry, Bá tước Saint-Exupéry, sinh ra ở Lyon, Pháp, phi công, nhà văn. Tác giả cuốn chuyện nổi tiếng Petit Prince (Hoàng tử bé con). Năm 1934 đã đến Việt Nam làm phóng viên của tờ báo Paris-Soir (Paris Buổi tối). Năm 1935 Saint-Exupery tham gia cuộc đua máy bay Paris -Sài gòn nhằm phá kỷ lục về tốc độ hàng không. Sự cố và trải nghiệm của chuyến bay này là khởi đầu cho cuốn tiểu thuyết của Saint-Exupery “Petit Prince” (Hoàng tử bé con) được đánh giá là kiệt tác và đã được dịch ra 250 thứ tiếng. Năm 1944 Saint-Exupéry đã không trở về sau chuyến bay cất cánh từ đảo Corse. Sau này những người có trách nhiệm và yêu quý văn thơ của Saint-Exupéry không ngừng tìm kiếm dấu tích của Saint-Exupéry. Năm 1998 tìm thấy một chiếc vòng tay bằng bạc có khắc tên vợ của Saint-Exupéry. Năm 2004 tìm thấy mảnh vỡ chiếc máy bay mang số hiệu mà Saint-Exupéry trực tiếp lái khi cất cánh 50 năm trước. Nhưng cái mà người ta tìm thấy rất có giá trị đó là một bài thơ “L’étang semble dormir” (Ao thu như đang ngủ) trong những bức thư của Saint-Exupéry gửi người bạn thân, cùng tuổi Jean Griser, khi Saint-Exupéry học tại trường Villa Saint-Jean ở Fribourg, Thụy Sỹ (1915-1917), lúc đó Saint-Exupéry mới 17 tuổi. Bài thơ này được coi là những bước đi đầu tiên của nhà thơ, nhà văn lớn Saint-Exupéry. (Tổng hợp tin bài liên quan theo các tài liệu quốc tế) Hà Nội, 9-2013 Trần Đông Phong
«L'étang semble dormir...»
Villa Saint-Jean Fribourg, le 18-2-17 À J(ean) Grisez, son ami de Saint-Exupéry
L'étang semble dormir, pas un roseau ne chante Les saules consternés se taisent sur le bord ; Pleurant ce qui leur fit souvent risquer la mort De fragiles iris penchent vers l'eau pesante...
Car le dieu qui rendait la campagne vivante, Le vent n'est plus ici pour l'animer encor, Pour dire aux oisillons de prendre leur essor Ou plisser l'étang bleu d'une vague mourante...
Mais les arbres pensifs attendent son retour. Et nous sommes ainsi quand, n'ayant plus d'amour, L'orage étant passé, rien chez nous ne frissonne,
Que réclamant ce qui nous fit pourtant souffrir Notre coeur est muet, vide, triste à mourir O mon ami... comme un paysage d'automne !
Ao thu như đang ngủ
Trường Villa Saint Jean ở Fribourg, 18 tháng 2 năm 1917 Gửi Jean Griser, bạn của anh Saint Exupery
Ao thu như đang ngủ, Lau sậy bặt tiếng ca. Liễu rủ lặng bên bờ. Khóc thương chết thường kề, Iris dáng mong manh, Nghiêng trĩu nước ao trầm.
Trời làm ruộng thêm tươi. Gió chẳng còn vi vút Nhắc chim non cất cánh Gợn sóng ao nước xanh Mờ lặng nhạt nhòa êm.
Hàng cây đứng ưu tư Như đợi bóng ai về. Và ta khi nào vậy, Tình yêu không còn nữa. Bão tố đã đi qua, Nơi ta vạn vật yên.
Nhưng mà cần phải hỏi, Ai làm ta khổ đau. Tim ta như câm lặng, Trống rỗng, buồn như chết. Ôi bạn tôi… vậy đó, Cảnh ao thu miên man. (TĐP dịch từ nguyên tác tiếng Pháp thơ của Saint-Exupéry)
"Il pleure dans mon cœur" là bài thơ mà Chipbong vô cùng yêu thích và cũng đã từng thử dịch sang tiếng Việt. Xin phép được post ở đây coi như để cổ vũ cho dự án của bác Đông Phong:
Lệ tuôn trong tim tôi
Mưa nhẹ rơi trên phố (Arthur Rimbaud)
Lệ tuôn trong tim tôi Như mưa rơi trên phố Là mối buồn chi đó Đang thấm vào tim tôi?
Ôi nhẹ tiếng mưa rơi Trên mặt đất, mái nhà! Êm ái khúc mưa ca Rót tim buồn da diết!
Lệ tuôn vô nguồn cớ Trong cõi lòng sầu bi Chẳng ai bội phản chi? Nỗi buồn này vô cớ
Đau nào hơn thế đó Khi chẳng biết vì đâu Không yêu thương, thù hận Tim chứa chất thảm sầu!
Le rideau s'est levé devant mes yeux débiles, La lumière s'est faite et j'ai vu ses splendeurs; J'ai compris nos destins par ces ombres mobiles Qui se peignaient (chải) en noir sur de vives couleurs. Ces feux, de ta pensée étaient les lueurs pures, Ces ombres, du passé les magiques figures, J'ai tressailli de joie en voyant nos grandeurs.
Il est donc vrai que l'homme est monté par lui-même Jusqu'aux sommets glacés de sa vaste raison, Qu'il y peut vivre en paix sans plainte et sans blasphème, Et mesurer le monde et sonder l'horizon. Il sait que l'univers l'écrase et le dévore; Plus grand que l'univers qu'il juge et qui l'ignore, Le Berger a lui-même éclairé sa maison. Alfred de Vigny
Tuổi vàng của tương lai
Kéo rèm trước mắt mờ mù Tràn đầy ánh sáng sắc màu lung linh Phận ta định bởi bóng hình Phủ đen sắc sống cho tình phôi pha Lửa này tinh khiết ý ta Bóng kia quá khứ hình ma khi người Run người sướng tận nói cười Bóng hình to lớn như người chiêm bao Tin rằng người tự nâng cao Đỉnh băng giá ấy dẫn vào lý nao Hòa bình cùng sống thanh cao Chằng điều chê trách, chẳng câu phàn nàn Chân trời và cả thế gian Đo, tìm, đè nát, phá tan đất trời Kìa ai hơn cả bầu trời Bên lời phán xét, bên lời bỏ qua Tự ta chiếu sáng nhà ta Mục Đồng ấy chính Cha già tóc sương. Trần Đông Phong dịch
J'ai cueilli ce brin de bruyère L'automne est morte souviens-t'en Nous ne nous verrons plus sur terre Odeur du temps Brin de bruyère Et souviens-toi que je t'attends Guillaume Apollinaire
Vĩnh biệt
Tôi đã ngắt nhành hoa thạch thảo này. Mùa thu chết em nên nhớ chuyện nay. Chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa trên chính trái đất này. Hương thời gian Nhành hoa thạch thảo đây Và em hãy nhớ rằng tôi vẫn đợi em. (Trần Đông Phong dịch)
... Sur les flancs du Moléson, Ah ! voyez ce frais gazon ! Entendez les chansonnettes Du pinson, des alouettes ; Chantons, que l'on soit prêt ! Partons pour le chalet. [...] Célestin CASTELLA
Trên sườn núi Mô-Lê-dông
Trên sườn núi thắm bên trời Ta nhìn ra bãi cỏ tươi rạng ngời Ta nghe giọng hót chim trời Tiếng kia chiền chiện, tiếng đây sẻ vàng Cùng nhau ta hát: sẵn sàng Gần căn nhà gỗ ta càng bước mau. (Trần Đông Phong dịch) -- Chú thích:
- Célestin CASTELLA (1828-1892): Nhà thơ nữ, người Thụy Sỹ. - Mô-lê-dông: Núi Moléson ở Friburg, Thụy Sỹ, cao 2002 m, có phong cảnh đẹp và các căn nhà gỗ đặc trưng của Thụy Sỹ. Friburg cũng là nơi mà nhà thơ người Pháp Saint-Exupery sống, học tập (1915-1917) và sáng tác bài thơ Ao thu như đang ngủ (L’Étang somble dormmir).
Est-elle almée ? Est-elle almée ?... aux premières heures bleues Se détruira-t-elle comme les fleurs feues... Devant la splendide étendue où l'on sente Souffler la ville énormément florissante !
C'est trop beau ! c'est trop beau ! mais c'est nécessaire - Pour la Pêcheuse et la chanson du Corsaire, Et aussi puisque les derniers masques crurent Encore aux fêtes de nuit sur la mer pure ! Arthur Rimbaud
Em là vũ nữ hóa thân?
Em là vũ nữ hóa thân? Sau giờ đêm hết tự tàn như hoa Huy hoàng rực rỡ kiêu xa Khiến cho đô thị phồn hoa sững sờ
Quá xinh! cần đấy, quá xinh! Vốn nhà bán cá, khúc tình đảo xa Mặt nạ đeo, vẫn thật thà Biển đêm vũ hội em là tinh khôi. (Trần Đông Phong dịch)
L'étoile a pleuré rose au coeur de tes oreilles, L'infini roulé blanc de ta nuque à tes reins ; La mer a perlé rousse à tes mammes vermeilles Et l'Homme saigné noir à ton flanc souverain. Arthur Rimbaud
Ngôi sao ngấn lệ trên trời…
Ngôi sao ngấn lệ trên trời Màu hồng ở giữa vành tai nóng bừng Vô cùng từ gáy đến lưng Màu trắng lăn mãi biết dừng ở đâu Biển kia lòng rạng ánh đào Màu hung ve vuốt dạt dào yêu thương Còn Ta rỉ máu bên sườn Màu đen đọng lại thế quyền tối cao. (Trần Đông Phong dịch)
Les chars d'argent et de cuivre - Les proues d'acier et d'argent - Battent l'écume, - Soulèvent les souches des ronces. Les courants de la lande, Et les ornières immenses du reflux, Filent circulairement vers l'est, Vers les piliers de la forêt, - Vers les fûts de la jetée, Dont l'angle est heurté par des tourbillons de lumière. Arthur Rimbaud
Cảnh bờ biển
Dòng xe tấp nập trên bờ Chiếc này nạm bạc, chiếc kia bọc đồng Tầu, thuyền rải rác cửa sông Mũi tầu bọc thép, bạc trông sáng ngời Xa trông sủi bọt tơi bời Gần trông nổi vẻ mây trời vân cây Đồng hoang xuyên những sông này Mênh mang dòng nước biển đầy triều dâng Cuộn tròn chảy hướng phía đông Rừng cây cổ thụ lặng không, ráng chiều Trụ kia giữ chắc đê điều Góc đây tương phản ánh chiều lung linh. (Trần Đông Phong dịch)