Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
6 bài trả lời: 6 bản dịch
Từ khoá: Đỗ Phủ (20)
Đăng bởi Vanachi vào 26/10/2005 02:46, số lượt xem: 5781

自京赴奉先縣詠懷五百字

杜陵有布衣,
老大意轉拙。
許身一何愚?
竊比稷與契。
居然成獲落,
白手甘契闊。
蓋棺事則已,
此誌常覬豁。
窮年憂黎元,
嘆息腸內熱。
取笑同學翁,
浩歌彌激烈。
非無江海誌,
蕭灑送日月。
生逢堯舜君,
不忍便永訣。
當今廊廟具,
構廈豈雲缺?
葵藿傾太陽,
物性固莫奪。
顧惟螻蟻輩,
但自求其穴。
胡為慕大鯨,
輒擬偃溟渤?
以茲誤生理,
獨恥事干謁。
兀兀遂至今,
忍為塵埃沒。
終愧巢與由,
未能易其節。
沉飲聊自遣,
放歌破愁絕。
歲暮百草零,
疾風高岡裂。
天衢陰崢嶸,
客子中夜發。
霜嚴衣帶斷,
指直不得結。
凌晨過驪山,
御榻在嵽嵲。
蚩尤塞寒空,
蹴蹋崖谷滑。
瑤池氣鬱律,
羽林相摩戛。
君臣留歡娛,
樂動殷膠葛。
賜浴皆長纓,
與宴非短褐。
彤庭所分帛,
本自寒女出。
鞭撻其夫家,
聚斂貢城闕。
聖人筐篚恩,
實欲邦國活。
臣如忽至理。
君豈棄此物?
多士盈朝廷,
仁者宜戰栗。
況聞內金盤,
盡在衛霍室。
中堂有神仙,
煙霧蒙玉質。
暖客貂鼠裘,
悲管逐清瑟。
勸客駝蹄羹,
霜橙壓香橘。
朱門酒肉臭,
路有凍死骨。
榮枯咫尺異,
惆悵難再述。
北轅就涇渭,
官渡又改轍。
群水從西下,
極目高崒兀。
疑是崆峒來,
恐觸天柱折。
河梁幸未坼,
枝撐聲窸窣。
行旅相攀援,
川廣不可越。
老妻寄異縣,
十口隔風雪。
誰能久不顧?
庶往共饑渴。
入門聞號啕,
幼子餓已卒。
吾寧舍一哀?
裡巷亦嗚咽。
所愧為人父,
無食致夭折。
豈知秋禾登,
貧窶有蒼卒。
生常免租稅,
名不隸徵伐。
撫跡猶酸辛,
平人固騷屑。
默思失業徒,
因念遠戍卒。
憂端齊終南,
澒洞不可掇。

 

Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự

Đỗ Lăng hữu bố y,
Lão đại ý chuyển chuyết;
Hứa thân nhất hà ngu,
Thiết tỉ Tắc dữ Tiết!
Cư nhiên thành hoạch lạc,
Bạch thủ cam khế khoát.
Cái quan sự tắc dĩ,
Thử chí thường ký khoát.
Cùng niên ưu lê nguyên,
Thán tức trường nội nhiệt.
Thủ tiếu đồng học ông,
Hạo ca di kích liệt.
Phi vô giang hải chí,
Tiêu sái tống nhật nguyệt.
Sinh phùng Nghiêu Thuấn quân,
Bất nhẫn tiên vĩnh quyết.
Đương kim lang miếu cụ.
Cấu hạ khởi vân khuyết.
Quỳ hoắc khuynh thái dương,
Vật tính cố nan đoạt.
Cố duy lũ nghị bối,
Đản tự cầu kỳ huyệt.
Hồ vi mộ đại kình,
Triếp nghĩ yển minh bột?
Dĩ tư ngộ sinh lý,
Độc sỉ sự can yết.
Ngột ngột toại chí kim.
Nhẫn vi trần ai một?
Chung quý Sào dữ Do.
Vị năng dịch kỳ tiết!
Trầm ẩm liêu tự thích,
Phóng ca phả sầu tuyệt.
Tuế mộ bách thảo linh,
Tật phong cao cương liệt.
Thiên cù âm tranh vanh,
Khách tử trung dạ phát.
Sương nghiêm y đái đoạn.
Chỉ trực bất năng kết.
Lăng thần quá Ly sơn,
Ngự tháp tại đái niết.
Xuy vưu tắc hàn không.
Xúc đạp nhai cốc hoạt.
Dao Trì khí uất luật.
Vũ lâm tương ma kết.
Quân thần lưu hoan ngu,
Nhạc động ân dao cát.
Tứ dục giai trường anh,
Dữ yến phi đoản hạt,
Đồng đình sở phân bạch,
Bản tự hàn nữ xuất.
Tiên thát kỳ phu gia,
Tụ liễm cống thành khuyết.
Thánh nhân khuông phỉ ân,
Thực dục bang quốc hoạt.
Thần như hốt chí lý,
Quân khởi khí thử vật?
Đa sĩ doanh triều đình,
Nhân giả nghi chiến lật?
Huống văn nội kim bàn
Tận tại Vệ, Hoắc thất.
Trung đường hữu thần tiên,
Yên vụ mông ngọc chất.
Noãn khánh điêu thử cừu.
Bi quản trục thanh sắt.
Khuyến khách đả đế canh,
Sương tranh áp hương quất.
Chu môn tửu nhục xú,
Lộ hữu đống tử cốt;
Vinh khô chỉ xích dị,
Trù trướng nan tái thuật!
Bắc viện tựu Kinh, Vị.
Quan độ hựu cải triệt.
Quần thuỷ tòng tây há,
Cực mục cao thốt ngột.
Nghi thị Không Đồng lại,
Khủng xúc thiên trụ chiết.
Hà Lương hạnh vị sách,
Chi sanh thanh tất tốt.
Hành lữ tương phan viên,
Xuyên quảng bất khả việt.
Lão thê ký dị huyện,
Thập khẩu cách phong tuyết.
Thuỷ năng cửu bất cố?
Thứ vãng công cơ khát.
Nhập môn văn hào đào,
Ấu tử cơ dĩ tốt!
Ngô ninh xả nhất ai,
Lý hạng diệc ô yết.
Sở quý vi nhân phụ,
Vô thực tri yểu chiết!
Khởi tri thu hoà đăng,
Bần lũ hữu thảng thốt.
Bình thường miễn tô thuế,
Danh bất lệ chinh phạt,
Phủ tích do toan tân,
Bình nhân cố tao tiết.
Mặc tư thất nghiệp đồ,
Nhân niệm viễn thú tốt.
Ưu đoan tề Chung Nam,
Hạng động bất khả xuyết.

 

Dịch nghĩa

Có người áo vải ở Đỗ Lăng,
Tuổi đã già ý nghĩ trở nên vụng về.
Chí lập thân sao ngu dại đến thế!
Thầm tự ví mình với Tắc Tiết.
Kết cục lại thành sự hão huyền,
Đầu bạc rồi đành chịu kiếp long đong;
Đậy nắp quan tài mới hết chuyện!
Chữ chí ấy vẫn còn ôm ấp mãi.
Suốt năm những lo người dân đen,
Than thở đến sốt ruột bồn chồn.
Các ông bạn cùng học chê cười,
[Mình thì] hát vang lòng thêm sôi nổi.
Chẳng phải là không có chí ngao du bốn bể,
Vui chơi cho qua ngày tháng;
Nhưng vì sinh gặp thời Nghiêu Thuấn.
Nên không nỡ dứt bỏ mà đi!
Hiện nay, những thứ bày nơi lăng miếu,
Thiếu gì gỗ lớn để làm nhà to.
Nhưng quỳ và hoắc vốn hướng về mặt trời,
Bản tính của vật vững chắc khó thay đổi.
Hãy xem đám sâu kiến,
Biết tự tìm về hang ổ của chúng.
Sao ta chọn con cá kình lớn,
Toan vẫy vùng ngoài khơi bao la?
Lấy đó mà nhận thức được lẽ sống,
Riêng hổ thẹn vì việc nhờ vả người..
Ngất ngưỡng cho đến nay,
Há đành vùi trong cát bụi!
Rốt cuộc ngượng với Sào Do,
Vì chưa thể đổi thay khí tiết.
Uống thật say mới thoả thích,
Hát vang lên cho nguôi sầu.
Cuối năm, trăm loài cỏ tàn úa,
Gió mạnh sụt lở gò cao.
Vòm trời u ám lồng lộng,
Khách lên đường giữa đêm khuya,
Sương giá buốt, giải áo đứt tung,
Ngón tay tê cóng không thể buộc lại được.
Sớm tinh mơ đi qua Ly Sơn,
Giường vua đặt nơi cao ngất.
Hơi khói rực rỡ đầy cả trời lạnh,
Đạp xéo lên mỏm đá cửa hang trơn như mỡ.
Ở cung Dao Trì không khí nồng nã,
Quân Vũ Lâm gươm giáo loảng xoảng.
Vua tôi cùng họp nhau vui chơi,
Tiếng đàn sáo vang lên rộn rã.
Được vua cho tắm toàn là [quan to] giải mũ dài,
Được dự tiệc chẳng phải [người nghèo] áo ngắn.
Lụa đem phân phát trước sân rồng,
Là do những gái nghèo dệt ra.
Roi vọt đổ lên đầu chồng họ,
Để vét của dân vào kinh đô!
Ơn ban giỏ lẳng của vua,
Thật là muốn cho đất nước thịnh vượng.
Kẻ làm tôi mà quên mất lẽ đó,
Hoá ra vua đã phí bỏ những vật kia.
Bậc sĩ phu đầy dẫy cả triều đình,
Người nhân nên lấy làm răn sợ.
Lại nghe những mâm vàng trong cung,
Đều chuyển ra hết nhà họ Vệ họ Hoắc.
Trong nhà họ có thần tiên,
Khói sương lồng vẽ ngọc.
Áo cừu lông điêu ủ ẩm khách,
Nước chanh thơm ngát lẫn nước quýt.
Nơi cửa son rượu thịt ê hề,
Ngoài đường cái có xương người chết rét.
Sướng và khổ chỉ trong tấc gang,
Lòng ngậm ngùi khó nói lên lời!
Xe lên bắc sông Kinh sông Vị,
Qua đò quan, lại rẽ hướng khác.
Sông nước trùng trùng từ tây đổ xuống,
Ngoài tầm mắt toàn núi cao chót vót.
Những tưởng từ Không Đồng tới,
E va chạm gãy cả cột trời.
Cầu sông nay vẫn chưa đổ,
Rầm cột lay động kêu ken két.
Người đi đường bíu lấy nhau,
Sông mênh mông không thể vượt qua.
Vợ già gửi nhờ ở huyện khác,
Mười miệng cách vời gió tuyết.
Ai nỡ lâu ngày không đoái hoài,
Thà đói khát mà về với nhau...
Vào cửa nghe tiếng gào khóc;
Đứa con nhỏ đã chết rồi!
Ta sao khỏi xót thương,
Người hàng xóm cũng cảm động nghẹn ngào.
Luống thẹn mình bổn phận làm cha,
Mà không nuôi nổi để con chết non.
Há biết vụ lúa thu đã chín,
Thế mà cái nghèo làm nẩy tai hoạ tức thì!
Đời mình thường được miễn tô thuế,
Tên mình khỏi ghi trong sổ lính.
Thế mà còn phải chịu nổi đắng cay,
Huống chi dân thường ắt nhiều khốn đốn.
Thầm nghĩ đến những người thất nghiệp,
Lại tưởng đến lính tráng nơi xa xôi.
Mối lo âu chồng chất như núi Chung Nam,
Man mác biết làm sao yên lòng!...

 


(Năm 755)

Đây là bài thơ tổng kết mười năm Đỗ Phủ ăn nhờ ở đậu tại Trường An (746-755). Trong mười năm đó, Đỗ Phủ đã tận mắt chứng kiến sự xa hoa thối nát của giai cấp phong kiến thống trị: "Cửa son rượu thịt ôi, Ngoài đường người chết đói". Năm trăm chữ độc vận, lại là trắc vận, nhưng không hề khô cứng, nhàm chán mà vẫn rất gợi cảm, khiến người đọc như thấy được sự trắc trở, mệt mỏi và cay đắng của ông. Xoay quanh nhân vật chủ thể là ông, các sự kiện, các nhân vật khác đều được thể hiện sinh động, miêu tả tỉ mỉ và cụ thể. Bài thơ đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tư tưởng và trong thơ ca của Đỗ Phủ. Nó chứng tỏ ông đã thành thục cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật. Và tư tưởng cũng như bút pháp "Chu môn tửu nhục xú, Lộ hữu đống tử cốt" ấy đã theo ông suốt cuộc đời mình...

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Chàng áo vải Đỗ Lăng,
Tuổi già đâm nghếch ngác.
Ngu sao cứ đem mình,
Sánh thầm với Tắc, Khiết.
Té ra thành rỗng không,
Bạc đầu cam lật đật.
Chưa đậy nắp quan tài,
Chí này còn muốn đạt.
Quanh năm lo vì dân,
Thở than thêm sốt ruột.
Bạn học mỉa mai cười,
Ca vang càng hăng tiết.
Há không chí giang hồ,
Tiêu dao ngày tháng suốt.
Sinh gặp vua Thuấn, Nghiêu,
Nỡ nào đành bỏ đứt!
Hiện nay để dựng nhà,
Đâu thiếu gì rường cột?
Hoa quỳ cứ hướng dương,
Tính trời ai cải được.
Đoái nhìn bè lũ kiến,
Miễn tìm được hang hốc.
Lọ phải học cá kình,
Biển xanh đòi khuấy chọc?
Lẽ sống ờ là thế,
Riêng hổ điều chạy chọt!
Cùi cụi cho đến nay,
Chịu vùi trong bụi tục.
Luống thẹn với Sào Do,
Ẩn mình không đổi tiết.
Chén chàn để làm khuây,
Hát lên đuổi sầu tuốt.
Năm cuối cỏ cây tàn,
Gió táp gò cao nứt.
Đường trời bóng tối om,
Nửa đêm mình cất bước.
Sương nặng dải áo đứt,
Tay cóng không thể buộc.
Rạng ngày qua Ly Sơn,
Sạp ngự trên chót vót.
Cờ xí rợp trời dăng,
Lũng đồi đạp tuyết trượt.
Suối ấm khí ùn ùn,
Quân hầu đông nghịt nghịt.
Vua tôi mải mê chơi,
Vui nhộn ầm trời đất.
Được tắm toàn mũ dài,
Dự tiệc nào áo cộc.
Vóc lụa thềm son chia,
So gái nghèo chịu nhọc.
Roi vụt nhà cùng đinh,
Tom góp dâng bệ ngọc.
Nhà vua đem ban ra,
Mong lợi dân ích nước.
Tôi mà không thấu lẽ,
Vua dễ hoài mưa móc?
Các quan đầy triều đình,
Người biết phải nơm nớp.
Huống nghe vàng trong kho,
Về nhà Vệ, Hoắc tất.
Giữa nhà múa thần tiên,
Khói mây lồng mặt ngọc.
Ấm khách áo điêu thử,
Não nùng đàn sáo rót.
Mời khách canh dận đà,
Chanh thơm đè quít ngọt.
Cửa son rượu thịt ôi,
Ngoài đường xương chết buốt.
Tươi héo chỉ tấc gang,
Nhắc lại càng chua xót.
Xe đến sông Kinh, Vị,
Qua đò, quay hướng khác.
Nước lũ xuống từ tây,
Hút mắt nhìn cao vút.
Ngỡ tự Không Đồng về,
E cột trời gãy đứt.
Cầu sông may chửa phá,
Cây chống kêu oằn oặt.
Người qua vịn bâu nhau,
Sông rộng khó lòng vượt.
Vợ già náu huyện xa,
Mười miệng cách gió tuyết.
Ai nỡ làm ngơ hoài,
Mong về chung đói khát.
Vào cửa nghe kêu gào,
Con thơ đói vừa mất.
Ta đâu khỏi đau lòng,
Hàng xóm cũng nghẹn nấc.
Làm cha chẳng đáng cha,
Không cơm bỏ trẻ thác.
Ngờ đâu năm được mùa,
Lũ nghèo cứ chịu chết.
Cả đời khỏi tô thuế,
Sổ lính tên không liệt.
Thế mà vẫn chua cay,
Người thường khổ bao xiết.
Nghĩ người lính thú xa,
Nhớ những người thất nghiệp.
Mối lo tày non Chung,
Gỡ lại càng rối rít.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Đất Đỗ Lăng có chàng áo vải,
Tuổi càng già, càng dại, càng khờ.
Ví mình với Tắc, Tiết xưa,
Bạc đầu chịu kiếp sống thừa chua cay!
Ván chưa sập, lòng này chưa đổi,
Vì dân đen buồn tủi quanh năm!
Đòi phen ruột nóng, lệ đầm,
Hát ngao cho hả, cười thầm mặc ai.
Sông biển rắp dong chơi ngày tháng,
Vua thánh minh, chưa đáng quên đời.
Cột, rường đành chẳng thiếu tài,
Hoa quỳ vẫn mến mặt trời biết sao ?
Khinh sâu, kiến con nào tổ nấy,
Học côn, kình vùng vẫy mông mênh!
Chiều đời chẳng uốn nổi mình,
Cát vùi, bụi lấp chịu đành tới nay!
Thẹn Sào, Do dám thay tiết cũ,
Mượn thơ bầu, rượu hũ làm khuây!
Đông về, gió táp tung bay,
Gò cao nứt vỡ, ngàn cây héo tàn.
Đường cái đã rộng lan bóng tối,
Giữa đêm trường tìm lối thẳng dong.
Sương nồng dải áo đứt tung,
Cóng tay thắt lại chẳng xong cũng liều.
Ngai vàng đặt cheo leo đỉnh núi,
Qua Ly Sơn một buổi sớm mai.
Mống trôi vắt vẻo ngang trời,
Lần mò bao đoạn ốc dài, kẽm trơn!
Bóng đèn ngọc chập chờn sáng rực,
Quân Vũ Lâm chầu chực đông sao!
Vua tôi sung sướng xiết bao,
Kẻ ra bàn tắm, người vào bàn ăn!
Trước thềm son, chia phần gấm vóc,
Lũ gái quê khó nhọc bao công ?
Chồng con đòn vọt mất mông,
Thu vào dâng lại sân rồng nhà vua
Nhà vua nhận, ban cho là cũng
Muốn sao cho nước sống dân yên.
Chẳng lo ơn báo, nghĩa đền,
Móc mưa nỡ để ơn trên phí hoài.
Đầy triều đình bao người tài giỏi,
Biết nghĩ ra sao khỏi rụng rời ?
Vàng kho nghe nói đã vơi:
Các nhà Vệ, Hoắc họ thời chuyển đi.
Làn mây khói lồng che mặt ngọc,
Những nàng tiên ngang dọc thềm trong.
Áo cừu điêu thử, người dùng,
Đàn vang, sáo thét, não nùng sướng tai.
Móng giò ninh, người xơi rỉm rót,
Thêm chanh chua, quất ngọt rượu mùi.
Cửa son rượu thịt để ôi,
Có thằng chết lả xương phơi ngoài đường.
Sướng, khổ cách tấc gang, trời vực,
Nói bao nhiêu cơ cực bấy nhiêu.
Trông Kinh, Vị ruổi xe theo,
Mấy đò quan, một buổi chiều vượt qua.
Các dòng sông trông xa cao vọi,
Từ phía tây dồn lại ào ào.
Không Đồng lạc lối hay sao ?
Cột trời e lúc vật vào gẫy tan.
Hoàng Hà rộng khó toan chuyện lội,
May còn cầu có lối lần sang.
Vịn nhau đầu đội vai mang,
Tiếng nghe kĩu kịt dịp dàng dưới chân.
Vợ già gửi kiếm ăn một chỗ,
Mười miệng ăn, mưa gió âu sầu.
Tìm sang đói khát có nhau,
Ai người có thể để lâu không nhìn ?
Vào cửa, thấy khóc rên, liền hỏi,
Con nhỏ vừa chết đói hôm qua.
Khỏi sao đau tủi lòng ta,
Xóm giềng họ cũng xót xa nghẹn ngào!
Làm bố thế có sao ra bố!
Không cơm nuôi để nó chết oan!
Biến sinh chỉ bởi nghèo nàn,
Lúa mùa thu gặt chan chan lệ người.
Việc sưu thuế một đời được rảnh,
Tên đi phu, đi lính cũng không.
Vậy mà còn chịu khốn cùng,
Người thường chẳng trách long đong trăm đường.
Bọn thất nghiệp, lại phường lính thú,
Nghĩ họ còn cực khổ biết bao!
Mối lo chồng tựa non cao,
Lung tung biết gỡ cách nào cho ra ?

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Đỗ Lăng kẻ áo vải,
Già rồi, ý chưa thông.
Lập thân sao ngu thế,
Tắc, Tiết hệt một tuồng.
Rốt cuộc việc hỏng bét,
Đầu bạc, hai tay không.
Đậy áo quan mới biết,
Chí kia vẫn hằng mong.
Suốt năm thương dân khổ,
Căm hờn, lòng nấu nung.
Bạn học cứ chế nhạo,
Càng hát vang tỏ lòng.
Cũng có chí sông bể,
Để thoả ngày tháng rong.
Nhưng sinh đời Nghiêu, Thuấn,
Chẳng lẽ sống lông bông.
Đương thời nơi lăng miếu,
Ai nói thiếu cột rường.
Tính trời khó thay đổi,
Một lòng hoa hướng dương.
Đâu như lũ sâu, kiến,
Cứ thập thò cửa hang.
Cá kình chí những muốn,
Vùng vẫy nơi đại dương.
Những thẹn việc cầu cạnh,
Lẽ sống đã tỏ tường.
Đến giờ còn vất vưởng,
Cát bụi phận long đong.
So Sào, Do còn kém,
Tiết tháo cứ ương ương.
Giải khuây nhờ chén rượu,
Hát ngao chẳng nguôi lòng.
Năm tàn hoa cỏ rụi,
Đỉnh cao cơn gió cuồng.
Trời âm u cao rộng,
Nửa đêm khách lên đường.
Sương lạnh, giải áo đứt,
Tay cóng, cột chẳng xong.
Ly Sơn qua một sớm,
Đỉnh cao dựng hành cung.
Trời lạnh, hơi rực đỏ,
Hang trơn, giày đạp sương.
Cung Dao Trì ấm cúng,
Quân canh gươm sáng trưng.
Vua tôi cùng vui thú,
Rầm rộ tiếng nhạc lừng.
Lũ cận thần cùng tắm,
Quần cụt, đứng ngoài trông.
Lụa là tay vua phát,
Gái áo manh dệt khung.
Chồng con chịu đòn vọt,
Quan giật để dâng công.
Của vua ban từng tấm,
Ý mong dân đủ dùng.
Lũ quan quên điều đó,
Há lẽ vua phí vung.
Triều đình bao kẻ giỏi,
Người hiền nên đề phòng.
Nghe Vệ, Hoắc vét sạch,
Vàng bạc kho vua không.
Trong nhà đầy tiên nữ,
Vẻ ngọc khói mây lồng.
Áo cừu làm ấm khách,
Đàn sáo hoà não nùng.
Món chân dò ninh sẵn,
Đồ uống chanh quít nồng.
Gác tía dư đồ béo,
Chết rét, xác đầy đường.
Bùi ngùi kể chẳng hết,
Sướng khổ liền tấc gang.
Xe tới miền Kinh, Vị,
Qua đò lại đổi đường.
Phía tây thác tuôn nước,
Hút mắt đứng xa trông.
Cột chống trời tưởng gãy,
Nước chảy tự Không Đồng.
Cầu sông may chưa sập,
Răng rắc tay vịn rung.
Khách qua cầu giắt díu,
Sông rộng, khó sang ngang.
Vợ già gửi huyện nọ,
Mười miệng dãi gió sương.
Lòng nào bỏ mặc mãi,
Đói khát có nhau cùng.
Tới cửa nghe tiếng khóc,
Con chết đói thảm thương.
Lòng đau xót vô hạn,
Xóm làng cũng cảm thông.
Thẹn cho phận làm bố,
Nuôi con chẳng đủ phương.
Ấy là mùa vừa gặt,
Mình nghèo con mạng vong.
Thân này được miễn thuế,
Sổ tuyển lính cũng không.
Thế mà còn đau xót,
Kẻ khác bao long đong!
Thầm thương người thất nghiệp,
Ngùi nhớ lính sa trường.
Lo âu cao như núi,
Trăm mối ngổn ngang lòng!

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Đất Đỗ Lăng có tên áo vải,
Đã già mà còn dại với ngu,
Lập thân sao quá khù khờ,
Thế mà Tắc, Tiết người xưa mong cùng!
Để rồi việc rối tung, tan tác,
Cho đến khi đầu bạc vẫn không.
Nghĩ đời, hòm đậy mới xong,
Cho nên chí ấy trong lòng vẫn nung.
Quanh năm kẻ bần cùng, thương xót,
Trong tim gan cùng ruột bừng bừng.
Cười ngạo, mấy tên học cùng,
Nhưng tôi càng tỏ nỗi lòng khăng khăng.
Chí sông biển vẫn hằng mong mỏi,
Ngày tháng dài đâu mải rong chơi.
Thời Nghiêu, Thuấn mình chào đời,
Nỡ nào ta lại xa rời công danh.
Nơi cung vua đã đành đầy đủ,
Chẳng khi nào lại thiếu cột, rường.
Quì, hoắc lòng vẫn hướng dương,
Tính vật vẫn thế không đường đổi thay.
Thử nhìn coi cái bày ong, kiến,
Chỉ quanh co trong chốn hốc hang.
Cá kình vẫn quyết một lòng,
Làm sao để được vẫy vùng bể khơi.
Ấy thế mà một đời luẩn quẩn,
Việc cầu xin thấy bẩn làm sao.
Đến giờ thân vẫn lao đao,
Cam tâm chịu cảnh chôn vào bụi tro.
Rồi so với Sào, Do thấy thẹn,
Khí tiết cao chẳng khiến đổi thay.
Rượu kia cứ ních cho say,
Nghêu ngao cũng chẳng dứt ngay được buồn.
Cỏ hoa lúc năm tàn, xơ xác,
Trên đỉnh cao gió giật thấy kinh.
Vòm trời u ám chênh vênh,
Nửa đêm thân khách cất mình ra đi.
Sương thấm lạnh, áo thì giải tuột,
Ngón tay tê cố cột chẳng xong.
Qua Ly Sơn, sớm tinh sương,
Đỉnh cao chót vót, có giường nhà vua!
Hơi rực đỏ chói loà trời rét,
Lần mò theo hang trượt hố trơn.
Dao Trì ấm, bóng chập chờn,
Đạo quân phòng vệ giáo gươm sáng ngời.
Vua tôi cùng vui chơi, xum họp,
Tiếng nhạc kia từng nhịp vang lừng.
Được tắm: kẻ giải mũ chùng,
Còn anh quần cụt chớ hòng miếng ăn.
Trước bệ rồng đem phân phát lụa,
Loại dệt này vốn của gái nghèo.
Thân chồng chịu vết roi hèo,
Thu về vội gửi tiến vào trong cung.
Ơn vua ban từng thùng, từng súc,
Ý muốn cho nước được vui vầy.
Làm quan há quên điều này,
Vua nào có nỡ phí hoài của dân.
Triều đình vốn đông chân tay giỏi,
Khiến người nhân cũng phải dè chừng.
Huống chi nghe chuyện kho vàng,
Các nhà Vệ, Hoắc chuyển sang cả rồi!
Lại có thần tiên ngồi giữa sảnh,
Làn khói mây cùng ánh ngọc lồng.
Làm ấm khách, có áo lông,
Sáo êm cùng với đàn trong trẻo hoà.
Khách ăn, chân lạc đà thơm ngát,
Nước uống có chanh quất đậm mùi.
Cửa son rượu thịt nồng hơi,
Ngoài đường trơ nắm xương người chết run.
So sướng khổ chỉ gần gang tấc,
Kể chi thêm tấm tức lòng này.
Xe theo Kinh, Vị tới đây,
Vừa qua đò lại đổi ngay hướng liền.
Từ phía tây dòng triền đổ tới,
Hút mắt trông chới với trên cao.
Không Đồng lại tưởng lạc vào,
Cột trời những sợ đổ nhào ngay đây.
Cầu sông thật là may còn bắc,
Đà, ván kêu răng rắc thấy ghê.
Vịn nhau lũ khách liều đi,
Lòng sông rộng quá, cách chi qua giờ.
Vợ già hiện nương nhờ huyện nọ,
Mười miệng ăn mưa gió cách xa.
Ai người mãi mãi làm ngơ,
Dù cho đói khát có nhau, tìm về.
Vừa tới cửa đã nghe tức tưởi,
Đứa con thơ bị đói chết rồi!
Sao ta chẳng khỏi ngậm ngùi,
Hàng xóm thấy vậy sụt sùi kêu than.
Thẹn cho mình cái thân làm bố,
Thiếu miếng ăn con nhỏ chết tong.
Ai ngờ mùa vừa gặt xong,
Vì nghèo, cái đói sảy trong lúc này.
Đời mình đã được may khỏi thuế,
Tên lại không biên chế lính vua.
Thế mà còn chịu cay chua,
Người thường chẳng trách te tua trăm chiều.
Nghĩ người thất nghiệp nhiều vô kể,
Lại còn bao lính thú phương xa.
Lo cao như núi Nam kia,
Lòng này rối rắm, gỡ ra được nào!

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Trung Lai

Đất Đỗ Lăng có chàng áo vải
Tuổi càng cao, càng dại, càng ngu
Coi mình như thánh nhân xưa
Lập thân ngẩn ngẩn, ngơ ngơ, hão huyền
Chí tiến thủ giữ nguyên trong dạ
Thề chỉ buông khi hạ ván thiên
Bốn mùa thương xót dân đen
Bạc đầu còn vẫn bên đèn thở than
Bạn đồng học chê gàn, chê dở
Chàng ta càng nặng nợ nam nhi
Nghĩ đời Nghiêu, Thuấn thế kia
Giang hồ, ai nỡ bỏ đi cho đành
Mong giúp rập triều đình hôm sớm
Làm cây to, cột lớn hơn người
Như hoa quỳ hướng mặt trời
Đâu như ong, kiến suốt đời lủi chui
Nhưng rồi phải nơi nơi cầu cạnh
Giữ cho mình trong sạch khó sao
May còn thẹn với Do, Sào
Chửa đem tiết tháo buộc vào xe ai
Sầu lên, giục hôm mai say khướt
Hát ca hoài, mong được thảnh thơi
Thế mà mưa bão dập vùi
Gió sương xơ xác một đời cỏ hoa
Một đêm nọ chàng ta cất bước
Giữa mây giăng sương buốt đầy trời
Ngón tay cóng lạnh rã rời
Buộc không xong dải áo người ra đi
Trời tảng sáng, qua Ly Sơn cũ
Thiên tử còn say ngủ trên cao
Ánh mây đỏ tựa cờ đào
Soi trên đá lạnh, rọi vào cửa hang
Trong hang, giữa cung vàng điện bạc
Quân Vũ Lâm loảng xoảng gươm đao
Vang lừng khúc nhạc đài Dao
Vua tôi dạ tiệc, vui nào vui hơn!
Suối ấm tắm vương tôn công tử
Dải mũ dài, gấm đỏ, tơ xanh
Những phường áo ngắn vô danh
Ai mời dự yến cung đình xưa nay
Lụa Thiên tử vui tay ban phát
Muôn gái nghèo xơ xác dệt thành
Chồng con roi vọt đầy mình
Mới ra yến tiệc triều đình thơm tho
Lộc Thiên tử ban cho từng lẵng
Cũng là mong nước lặng dân yên
Nhận rồi không biết báo đền
Khác nào bỏ phí ơn trên một đời
Quanh điện ngọc, bao người tài giỏi
Thấy cảnh kia sao khỏi đau lòng
Còn nghe vàng sáng, ngọc trong
Về lầu riêng cả, kho không còn gì
Kìa nhà họ Dương kia là thế
Trong với ngoài đều vẻ thần tiên
Áo cừu ủ ấm khách quen
Tiếng tơ tiếng trúc ngày đêm giao hoà
Tiệc bày móng lạc đà ninh kỹ
Tráng miệng dùng chanh quý, quýt tươi
Cửa son gạo thịt bỏ ôi
Bao người chết rét xương phơi ngoài đường
Sướng với khổ chỉ dường gang tấc
Gang tấc mà trời vực thế kia
Càng nghe càng lại não nề
Quay xe giục ngựa tìm về thăm con
Bao ngọn nước trên non đổ xuống
Hút mắt nhìn, cuồn cuộn trời tây
Hoàng Hà nước chảy qua mây
Ngỡ như trời sập trong ngày gió mưa
Cây cầu gỗ may chưa bị vỡ
Trèo trẹo kêu như đổ đến nơi
Qua cầu, người vịn tay người
Lần lần từng bước ngang trời mà đi
Vợ con gửi nơi kia cách trở
Mười miệng ăn xoay sở vào đâu?
Thà về đói khát bên nhau
Còn hơn mê mải hái sao trên trời
Vừa qua cửa đã rơi nước mắt
Ma đói vừa bắt mất con ta
Thằng con bé bỏng nhất nhà
Vợ già than khóc, lòng ta rã rời
Trời sao trời chẳng chiều người
Xóm giềng ai cũng ngậm ngùi xót xa
Ta làm bố không ra phận bố
Để con mình chết khổ chết oan
Đồng thu đã gặt quanh làng
Có kẻ cơ hàn bỏ đói vợ con!
Ta được miễn, không còn tô thuế
Tên nằm ngoài niên lệ tòng quân
Thế mà đang phải khốn cùng
Dân thường còn biết vẫy vùng ra sao?
Người thất nghiệp biết bao cay cực
Kẻ đầu quân Tây Vực, Nam Man
Lo phiền như núi như non
Chạnh thương cảnh ấy, héo hon dạ này!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Đất Đỗ Lăng có người áo vải
Tuổi càng cao chí lại khù khờ
Lập thân ngu dại làm sao
Ví mình như Tắc Tiết trào xa xưa
Rút cuộc chẳng được thua gì cả
Đầu bạc rồi đành ở kiếp hèn
Tới khi đóng nắp ván thiên
Chí này tiến thủ giữ nguyên lâu bền
Quanh năm vì dân đen lo lắng
Than thở nhiều đến nóng cả lòng
Bạn bè cười mỉa mai khùng
Ta càng hát lớn tỏ lòng hăng say
Sông hồ đâu không vui chí khí
Tiêu dao cho qua phí tháng ngày
Nhưng thời Nghiêu Thuấn hiện nay
Không nên bỏ lỡ dịp may đổi đời
Triều đình hiện anh tài đủ cả
Đâu thiếu rường cột để đảm đương
Hoa quỳ, hoa hoắc hướng dương
Tự nhiên vững chắc không nhường ai đâu
Hãy nhìn xem con sâu cái kiến
Chúng chỉ cầu có chốn ổ hang
Đâu mơ làm cá voi hùng
Thân dài sức mạnh vẫy vùng biển khơi
Từ đó hiểu lẽ đời mà sống
Tự thấy mình tật xấu cúi luồn
Tới nay vất vả luôn luôn
Chìm trong cát bụi đành lòng hay sao?
Cuối cùng thẹn với Sào Do ngẫm
Khí tiết xưa ta vẫn chưa thay
Uống cho thoả thích thật say
Hát nghêu ngao giữa chốn này cho nguôi
Cuối năm hoa mọi loài tàn tạ
Gió mạnh như núi xé non dời
Chênh vênh đường núi tối rồi
Khách ra đi lúc bầu trời nửa đêm
Sương nhiều lạnh, dải trên áo đứt
Ngón tay tê không buộc được nào
Ly sơn tảng sáng bước vào
Giường vua thấy đặt nơi cao ngất đài
Đất Xi Vưu lặng vùi giá lạnh
Chân bước trên đá cạnh trượt trơn
Dao Trì khí nóng bốc lên
Giáo dài lách cách tiếng quân canh phòng
Vua tôi đang vui trong hoan lạc
Tiếng sáo đàn hoà nhạc vang dồn
Được vào suối tắm vương tôn
Được ra dự yến không tuồng áo đơn
Trong sân luạ phấn son phân phát
Vốn do bầy gái rét gia công
Vọt roi đánh đập thằng chồng
Đặng thu gom đủ hoàng thành hiến dâng
Vua ban ơn lại bằng thúng sọt
Dụng ý là cho đất nước cường
Ví dân không hiểu quân vương
Hoá ra vua vứt những thùng đó sao?
Triều đình đầy những đầu học thức
Dân lành nên hay biết mà kinh
Huống chi nội điện mâm vàng
Đã sang Vệ Hoắc tư dinh dần dần
Trong nhà như có thần tiên khách
Hương khói che mờ khắp ngọc châu
Ấm người mặc áo lông điêu
Tiếng đàn hoà với tiếng tiêu trầm buồn
Mời canh lạc đà hầm ưa thích
Có sương chanh và quít ngọt tươi
Bên trong rượu thịt toả hơi
Ngoài đường chết lạnh xương người cóng khô
Tươi, khô chỉ cách xa gang tấc
Nỗi đau lòng khó thuật mà nghe
Tới sông Kinh Vị bằng xe
Qua đò công cộng đổi xe rồi về
Nước sông chảy xuôi về tây hướng
Từ núi cao ngất ngưởng từng không
Ngờ rằng từ núi Không Đồng
Lại e chảy xiết cuốn phăng cột trời
May mà cầu qua ngòi chưa sập
Sàn bắc ngang cầm cập lắc lư
Qua cầu phải víu vào nhau
Mặt sông thì rộng ngõ hầu khó qua
Vợ già gửi huyện xa nơi khác
Mười miệng ăn xa cách gió sương
Lâu ngày ai nỡ không thương
Thà về cùng sống chung đường cháo rau
Bước vào nhà tiếng gào tiếng khóc
Thì ra con nhỏ nhất chết rồi
Sao không thương xót bi ai?
Xóm giềng cũng đến góp lời than van
Ta hổ thẹn cha an nghèo khó
Con chết vì không có cái ăn
Luá thu đã chín giăng giăng
Nhưng vì nghèo quá nên chăng khó lường
Tô thuế đời ta thường được miễn
Lại không tên trong sổ chinh tây
Mà còn ngậm đắng nuốt cay
Huống hồ dân mọn chắc đầy dễ ngươi
Lặng nghĩ tới những người thất nghiệp
Nhân đó suy tới kiếp chinh nhân
Mối buồn to tựa núi Nam
Mênh mang bát ngát không kham nổi rồi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời