Dưới đây là các bài dịch của Việt Ngâm. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Ngũ Hành sơn kỳ 2 (Nguyễn Thượng Hiền): Bản dịch của Việt Ngâm

Linh Ứng đền xây giữa núi sâu,
Tàng Chân động cổ đá thưa rêu.
Gió thu giữa cửa Tùng Quan ngắm,
Hạc biển bay mà chả thấy đâu.


Nguồn: Báo Tiếng dân, số ra ngày 28-9-1935
Ảnh đại diện

Ngũ Hành sơn kỳ 1 (Nguyễn Thượng Hiền): Bản dịch của Việt Ngâm

Hai mươi năm lẻ xuống trần gian,
Ngoảnh lại Bồng Lai gấm dở dang.
Kìa động Tàng Chân nay được đến,
Dâng hoa quét lá lễ tiên ban.


Nguồn: Báo Tiếng dân, số ra ngày 28-9-1935
Ảnh đại diện

Đề Trấn Vũ miếu (Cao Bá Quát): Bản dịch của Việt Ngâm

Chưa thể chơi xa lại dựa lầu,
Lan can ngồi chệch ngắm dòng sâu.
Nước mây đưa khách thêm nguồn cảm,
Doi bãi riêng ta chất khối sầu.
Trời đất bóng chiều phai tóc bạc,
Giang hồ xuân lặng lẻ mình âu.
Trò vui ngày trước là nơi đấy,
Cung cũ hoa tàn trải mấy thu.


Nguồn:
1. Báo Tiếng dân, ngày 12-9-1935
2. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968
Ảnh đại diện

Đăng Trấn Vũ quán môn lâu (Tùng Thiện Vương): Bản dịch của Việt Ngâm

Lầu cao một chắc ruột vò tơ,
Trời tối chuông chùa tiếng vẩn vơ.
Cây cổ có ngành treo nguyệt rạng,
Bia tàn mất chữ phủ rêu lờ.
Tượng đồng muôn thuở còn trơ trọi,
Cửa ngọc năm triều nửa đổ hư.
Lựa có Hồ Tây mây khá đẹp,
Bay theo chiều gió lọt rèm thưa.


Nguồn:
1. Báo Tiếng dân, ngày 21-9-1953
2. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968
3. Ưng Trình và Bửu Dưỡng, Tùng Thiện Vương - tiểu sử và thơ văn, Sao Mai xuất bản, Sài Gòn, 1970, trang 320-321
Ảnh đại diện

Ngũ Hành sơn kỳ 3 (Nguyễn Thượng Hiền): Bản dịch của Việt Ngâm

Non cao mấy chén rượu tùng say,
Xa tục, tiên ông ở chốn nầy.
Tung tích người xưa thôi chớ hỏi,
Chòm mây muôn dặm tự do bay.


Nguồn: Báo Tiếng dân, số ra ngày 28-9-1935

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]