Dưới đây là các bài dịch của Trinh Đường. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 2 trang (11 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hai chiếc khăn tay (Mirzo Tursunzade): Bản dịch của Thuỵ Ứng, Trinh Đường

Chiếc khăn tay mịn màng trong trắng
Hơn cánh hoa trong vườn táo quê tôi
Như trái tim chờ người yêu trao tặng
Người đã hiến tôi suốt chặng đường đời
Mẹ các con tôi, Người thiếu nữ Tát-gi-kít-tăng

Tôi yêu vợ con mong giống nòi cường tráng
Muốn con tôi thở khí trời trong sáng
Ăn miếng ăn kiếm bằng những giọt mồ hôi
Tôi chăm sóc con tôi với tình thương vô hạn
Như nhân dân đã chăm sóc nàng, người thiếu nữ Tát-gi-kít-tăng

Chiếc khăn khác, dệt từ xa, sao giống quá
Ngay giữa Pa-ri, giữa hội nghị Hoà bình
Họp trong điện Pơ-lây-en
Bàn tay người có cặp mắt dịu hiền

Nàng đã tặng tôi người thiếu nữ Việt Nam
Cặp mắt nụ cười nàng, lửa tự do cháy lộng
Khăn này không lau nước mắt chua cay
Là sức mới đang lên hay là sự sống
Đã xua đi bao ác mộng
Ôi nụ cười người thiếu nữ Việt Nam!

Phải chiếc khăn dệt mơ ước của nàng
Rực rỡ bản đồ Việt Nam trên một góc
Đỏ thắm lá cờ: dấu hiệu đấu tranh ở miền Nam tang tóc
Tất cả hiện lên trên chất lụa mịn màng
Ôi bàn tay người thiếu nữ Việt Nam

Không nhận làm sao một biểu hiện thiêng liêng
Cả mối tình với Liên Xô trong chiếc khăn nho nhỏ
Tôi đã nhận trên tay kiêu hãnh giữ gìn
Và để che mắt lũ hiến binh cú vọ
Nó đã được nằm bên tim người thiếu nữ Việt Nam

Tôi nhận được món quà trao tặng
Người dân Pháp nhìn nàng mỉm cười tươi thắm
Thêm ước mơ một nước Pháp tự do
Càng quyết tâm tranh đấu với kẻ thù
Càng lấy tình bạn bè bảo vệ người thiếu nữ Việt Nam

Về Mạc-tư-khoa họp hội nghị Hoà bình, tôi lại nhớ
Đồng ruộng Việt Nam trời đất xa xăm
Nhớ chiếc khăn trắng, nhớ người thiếu nữ
Giữa đám đông tôi len lỏi tìm nàng
Người thiếu nữ Việt Nam

Nàng ở đâu? Rừng Bắc Bộ với làn da cháy nắng
Hay miền Trung trùng điệp núi rừng
Hay miền Nam bát ngát đồng bằng
Hay Sài Gòn, Hải Phòng bến tàu trập trùng núi đá
Giương lá cờ tự do, hỡi người thiếu nữ Việt Nam?

Ta cần bầu trời để giương cao lấp lánh
Ta cần ruộng đồng cò bay thẳng cánh
Ta muốn lũ diều quạ hùm beo
Và bóng tối của hoang tàn không còn ám ảnh
Nên nàng đã đấu tranh - chúng tôi luôn ở bên nàng
Hỡi người thiếu nữ Việt Nam!


Nguồn: Việt Nam trong lòng bạn (tập thơ văn nước ngoài viết về Việt Nam), NXB Văn học, 1960
Ảnh đại diện

Nông gia (Vũ Cố): Bản dịch của Trinh Đường

Ở đời khổ nhất vẫn nông gia
Thóc gạo làm ra sạm dáng hoa
Nuôi miệng còn lo sung quốc khố
Binh hùng trăm họ, dẹp can qua

Ảnh đại diện

Kịch thử (Lục Du): Bản dịch của Trinh Đường

Tháng sáu nắng đang dữ
Mồ hôi thở khôn ngăn
Chạy trốn không có cách
Mong bóng cây xế gần
Hoặc bảo nên đọc sách
Hoặc khuyên cứ chén tràn
Hoặc khoe viết chữ đẹp
May cơn cơn nóng xua tan
Hoặc câu bên suối mát
Hoặc cờ dưới tre râm
Cũng có người chước thấp
Đổ tiền mua chiếu nằm
Hoặc chân không giẫm tuyết
Kẻ ấy thực là gàn
Ta bảo: "Không phải thế
Mong anh suy nghĩ dần
Giờ đây chiếu vua xuống
Vùng Hoài, Biện ra quân
Cửa soái, dựng cờ xí
Sớm tối hịch truyền ran
Đại tướng mặc áo giáp
Lính theo lệnh bảo ban
Ba quân chưa no hết
Tướng đói không phàn nàn
Khát chẳng uống nước trước
Chạy không kêu chồn chân
Lũ ta được yên ổn
Cây rừng che rợp sân
Trật khăn rửa suối lạnh
Nằm ngồi thích riêng thân
Thế mà còn sợ nóng
E dối cả quỷ thần!"
Khách nghe cho là phải
Gọi giấy viết thơ văn
Bỗng bên bàn, song cửa
Gió mát thổi lần lần


Nguồn: Thơ Lục Du, NXB Văn học, 1971
Ảnh đại diện

Chiến thành nam (Lục Du): Bản dịch của Trinh Đường

Quân vua ra thành nam,
Bụi bay mờ thành bắc.
Ngựa chiến năm quân như gấm thêu,
Ra vào biến hoá khôn lường trước.
Giặc Hồ dối trời, phản Trung Quốc,
Hổ lang dù mạnh không thắng đức.
Xì xồ trước ngựa tranh xin hàng,
Ngổn ngang gươm giáo vứt đầy đất.
Ông tướng trên dốc mang cờ vàng,
Sai quân truyên xuống: chớ kinh hoàng.
Chiếu vua tha bay khỏi tội chết,
Đừng vã mồ hôi, run sợ khiếp.


Nguồn: Thơ Lục Du, NXB Văn học, 1971
Ảnh đại diện

Bi thu (Lục Du): Bản dịch của Trinh Đường

Đèn thu: chiếc đóm con,
Song cửa sáng le lói.
Mưa thu như giọt hồ,
Rả rích liền sớm tối.
Ta há phải Khuất Nguyên?
Thơ oán, đau tê tái.
Vì lo việc nước nhà,
Gặp thu, buồn chẳng khỏi.
Lính chết già không đánh,
Thuế sưu dân khổ ải.
Nỡ để vùng Giang Hoài,
Năm năm đồn thú mãi?


Nguồn: Thơ Lục Du, NXB Văn học, 1971
Ảnh đại diện

Tạp cảm (Lục Du): Bản dịch của Trinh Đường

Mưa tạnh hoa còn ít,
Buồn nhiều rượu chẳng nguôi.
Não lòng hơi địch thổi,
Rối mắt cuộc cờ chơi.
"Ra biển" lời còn đó,
"Dời non" chí chửa thôi.
Ai người biết tráng sĩ,
Gõ trúc xót thương vời!


Nguồn: Thơ Lục Du, NXB Văn học, 1971
Ảnh đại diện

Quang Lộc bản hành (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trinh Đường

Đi rừng, ác lặn xuống vách dựng
Ngàn núi muôn núi trông đỏ lựng
Cành cây khi rộn tiếng chim kêu
Trời tối không người, về một bóng
Ngựa hãi, nào lo hố thẳm rơi
Cỏ rung, chỉ sợ cung dài bắn
Đâu lại được như lúc Khai Nguyên
Đường sá giờ sao đầy hiểm chướng


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn học, 1962
Ảnh đại diện

Phát Lãng Trung (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trinh Đường

Trước có rắn độc, sau hổ dữ
Suốt ngày lội suối không thôn ổ
Gió sông hắt hiu mây quét đất
Cây núi ảm đạm mưa muốn đổ
Con ốm vợ lo, muốn về gấp
Hoa thu đá gấm ai kể số
Xa nhà ba tháng, được một thư
Lánh nạn bao giờ khỏi sầu khổ


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ - tr.198, NXB Văn Học, 1962
Ảnh đại diện

Đắc xá đệ tiêu tức (Loạn hậu thuỳ quy đắc) (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trinh Đường

Sau loạn ai về đặng?
Tha hương hơn cố hương
Vì thế lòng đau xót
Từng mong cùng mất còn
Thư em còn ở vách
Vợ em đã sang ngang
Biết ta buồn giận đó
Chó rũ đầu bên giường

Ảnh đại diện

Tống viễn (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trinh Đường

Giặc giã đầy trời đất
Sao mình tếch dặm xa
Bạn bè oà tiếng khóc
Yên ngựa bỏ thành ra
Cây cỏ tháng năm muộn
Quan hà sương tuyết pha
Biệt ly qua buổi ấy
Càng thấu tình người xưa

Trang trong tổng số 2 trang (11 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối