Dưới đây là các bài dịch của Phạm Bích Thuỷ. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 3 trang (26 bài trả lời)
[1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Buồn vui (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Một người đàn bà thưa: xin hãy nói về buồn vui.
Người đáp:
Niềm vui các ngươi là nỗi buồn lộ chân tướng.
Trong cùng một giếng nơi trổi tiếng cười các ngươi lại thường đầy lệ các ngươi.
Có khác được chăng?
Nỗi buồn càng khắc sâu vào các ngươi bao nhiêu thì bấy nhiêu niềm vui các ngươi càng chứa được thêm.
Há không phải chén đựng rượu nho các ngươi chính là chén bị nung trong lò gốm sao?
Và há không phải đàn tì bà xoa dịu hồn các ngươi chính là gỗ bị dao khoét đó sao?
Khi sung sướng, hãy nhìn sâu vào hồn mình và các ngươi sẽ thấy đó chỉ là điều đã gieo buồn rầu nay đem sung sướng lại cho các ngươi.
Khi buồn rầu, lại nhìn vào lòng mình và các ngươi sẽ thấy thực ra các ngươi đang khóc lóc điều từng là nguồn vui của mình.

Có vài người nói: “Vui cao cả hơn buồn” và những kẻ khác lại bảo: “Không, buồn mới cao cả hơn”.
Nhưng ta nói cùng các ngươi, hai điều ấy chẳng thể tách rời.
Chúng cùng đến, và khi điều này ngồi riêng với các ngươi nơi bàn ăn, hãy nhớ rằng điều kia đang ngủ say trên giường các ngươi.
Thực vậy, các ngươi bị treo tựa những đĩa cân giữa buồn vui.
Chỉ khi thành hư không các ngươi mới dừng lại và cân bằng.
Khi Đấng giữ kho báu nhấc các ngươi lên để cân vàng bạc người, thì buồn vui các ngươi buộc phải bổng hay trầm.


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Công việc (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Có một nông phu thưa: xin người hãy nói về công việc.
Người đáp:
Các ngươi làm việc để giữ nhịp cùng mặt đất và hồn đất. Vì ở không là thành kẻ xa lạ với các mùa và tách khỏi lễ rước của đời sống tiến về vô cùng trong uy nghi và tuân phục kiêu hãnh. Khi làm việc, các ngươi là ống sáo mà qua lòng ống tiếng thầm thì của thời gian hoá thành âm nhạc. Ai trong các ngươi muốn là ống sậy câm nín trong khi mọi người cất tiếng hoà ca? Các ngươi luôn luôn nghe nói công việc là một nguyền rủa và cần lao là một bất hạnh. Nhưng ta bảo rằng khi làm việc, các ngươi hoàn tất một phần giấc mơ sâu thẳm nhất của lòng đất đã được giao cho các ngươi từ khi giấc mơ mới ra đời. Tiếp tục cần lao là các ngươi thực sự yêu đời. Và yêu đời qua cần lao là thân cận với bí ẩn sâu kín nhất của đời sống.

Nhưng nếu trong cơn khó nhọc các ngươi gọi sự sinh là phiền não và việc nuôi dưỡng thân xác là sự nguyền rủa ghi trên trán mình, thì ta đáp rằng không, vì mồ hôi trán các ngươi sẽ rửa sạch hết những gì đã ghi. Các ngươi cũng nghe nói đời là đen tối, và trong mệt mỏi các ngươi lập lại những điều kẻ nhọc nhằn đã thốt. Ta nói rằng đời quả đen tối trừ khi có hứng khởi. Và mọi hứng khởi đều mù loà trừ khi có hiểu biết. Và mọi hiểu biết đều vô hiệu trừ khi có việc làm. Và mọi việc làm đều rỗng tuếch trừ khi có tình yêu. Và khi làm việc với tình yêu, các ngươi đã buộc mình với bản thân, với lẫn nhau và với Thượng Đế.

Thế nào là làm việc với tình yêu?
Đó là dệt vải với tơ lòng như thể ngươi yêu dấu của ngươi sẽ mặc vải ấy.
Đó là xây nhà với thương yêu như thể người yêu dấu của ngươi sẽ ở trong nhà ấy.
Đó là gieo hạt với trìu mến và gặt hái với niềm vui như thể người yêu dấu của ngươi sẽ ăn hoa quả ấy.
Đó là đặt vào mọi thứ các ngươi nặn một hơi thở của chính hồn mình.
Và biết rằng tất cả những người chết lành đang đứng quanh để xem chừng các ngươi.
Ta thường nghe các ngươi nói, như lên tiếng trong mơ:
“Người khắc cẩm thạch đúc hồn mình trong phiến đá, cao quý hơn kẻ bừa đất,
Và kẻ thâu cầu vồng đặt trên tấm vải vẽ chân dung con người, cao quý hơn kẻ làm dép chân ta đi.”
Nhưng ta nói, không phải trong giấc ngủ mà khi tỉnh táo giữa trưa, rằng gió không dịu giọng với cây sồi vĩ đại, hơn với cây nhỏ bé nhất trong muôn ngọn cỏ;
Và chỉ có người cao cả là kẻ biến tiếng gió thành một bài ca dịu ngọt hơn, bằng chính tình yêu của mình.

Công việc là tình yêu hiển hiện.
Nếu các ngưoi không thể làm việc với tình yêu mà chỉ với chán ghét, thì tốt hơn nên bỏ công việc ra ngồi trước cửa đền thờ, và nhận vật bố thí của những kẻ làm việc với niềm vui.
Vì nếu các ngươi nướng bánh với lạnh nhạt, thì các ngươi đã nướng thứ bánh đắng cay chỉ nuôi được nửa cơn đói con người.
Nếu các ngươi miễn cưỡng ép nho, thì lòng bực bội của các ngươi đã cất thuốc độc trong rượu.
Và dẫu các ngươi hát như những thiên thần mà không yêu ca hát, thì các ngươi đã bịt tai con người trước giọng của ngày đêm.


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Ăn uống (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Rồi một cụ chủ quán cất tiếng: Xin người hãy nói về ĂN UỐNG
Người nói:
Chớ chi các ngươi có thể sống bằng hương đất và như loài cây gió sống nhờ ánh sáng
Nhưng vì các ngươi phải giết để có ăn và cướp sữa trẻ sơ sinh để dịu cơn khát mình, vậy hãy khiến ăn uống thành một hành vi thờ phượng
Hãy để bàn ăn các ngươi dựng một bàn thờ, hiến cái tinh khiết và trong lành của rừng rú cùng đồng nội cho cái còn tinh khiết, trong lành hơn nơi con người
Khi giết một con thú, các ngươi hãy thầm nói với nó
“Bởi cùng một quyền năng giết ngươi, ta cũng sẽ bị giết: chính ta sẽ bị tiêu diệt
Vì luật giao ngươi vào tay ta sẽ giao ta vào một bàn tay mạnh hơn
Máu ngươi và máu ta đều vô nghĩa nhưng là nhựa nuôi cây thiên đàng”

Và khi cắn một trái táo, các ngươi hãy thầm nói với nó
“Hạt ngươi sẽ sống trong thân ta
Nụ của ngày mai ngươi sẽ nở hoa trong lòng ta
Hương thơm ngươi sẽ là hơi thở ta
Và chúng ta sẽ cùng sung sướng qua khắp mọi mùa”

Mùa thu, khi các ngươi hái nho trong vườn mình để ép, hãy thầm nhủ
“Ta cũng là một vườn nho và trái ta sẽ bị hái đem ép
Tựa rượu mới, ta sẽ bị cất trong những bình đời đời”

Mùa đông, khi các ngươi rót rượu nho, hãy có trong lòng một bài ca cho mỗi chén
Và hãy có trong bài ca sự hồi tưởng tới những ngày thu, tới vườn nho và tới máy ép nho


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Sự cho (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Có một ông nhà giàu thưa: Xin người hãy nói về SỰ CHO
Người đáp:
Các ngươi cho rất ít khi đem cho những vật các ngươi sở hữu
Đem cho chính bản thân, ấy mới thực là cho
Vì vật các ngươi sở hữu là chi ngoài những thứ các ngươi cất giữ và canh gác sợ ngày mai sẽ cần đến chúng?
Và ngày mai, ngày mai sẽ đem gì đến cho con chó quá thận trọng chôn những khúc xương trong bãi cát không dấu vết khi theo chân những người hành hương đến đất thánh?
Và sợ thiếu thốn là chi hay đó chính là sự thiếu thốn?
Há chẳng phải sợ khát khi giếng các ngươi đầy là cơn khát không sao dập được?

Có những kẻ cho rất ít trong lượng nhiều họ có, họ cho để được chú ý và lòng ham muốn thầm kín đó biến tặng phẩm họ thành bất toàn hảo
Lại có những kẻ sở hữu rất ít và đem cho cả
Đấy là những kẻ tin tưởng vào đời sống cùng sự sung mãn của đời sống, và rương họ chẳng bao giờ rỗng
Có những kẻ cho với niềm vui và niềm vui ấy là phần thưởng của họ
Có những kẻ cho với đớn đau và đớn đau ấy là lễ rửa tội của họ
Lại có những kẻ cho mà không biết đến đớn đau khi cho, họ chẳng tìm kiếm niềm vui, cũng không cho với chủ tâm làm điều tốt

Họ cho như dưới thung lũng kia cây mộc dược toả hương trong không gian
Qua bàn tay những kẻ ấy Thượng Đế lên tiếng, và từ sau mắt họ, Ngài mỉm cười trên trái đất

Cho khi được hỏi xin là quý nhưng tốt hơn nên cho chẳng đợi xin, cho qua cảm thông
Và đối với bàn tay mở rộng, sự tìm kiếm người sẽ nhận là một niềm vui lớn hơn cả sự cho
Có vật chi các ngươi nên giữ lại chăng?
Tất cả những gì các ngươi có, một ngày kia sẽ được cho đi
Vậy hãy cho ngay từ bây giờ để mùa cho là của các ngươi chớ chẳng phải của những kẻ thừa kế các ngươi

Các ngươi thường nói: “Tôi sẽ cho nhưng chỉ cho kẻ xứng đáng thôi”
Cây cối trong vườn các ngươi không nói thế
Gia súc trong đồng các ngươi cũng không nói thế
Chúng cho để được sống vì giữ lại là hư mất
Chắc chắn những kẻ đã xứng đáng sống trên đời hẳn xứng đáng nhận mọi thứ khác nơi các ngươi
Và kẻ đã xứng đáng uống từ biển đời hẳn xứng đáng múc đầy chén hắn trong suối nhỏ các ngươi
Còn sa mạc nào lớn hơn sa mạc nằm trong lòng can đảm và tin cậy, trong chính cả lòng từ thiện, của sự nhận?
Và các ngươi là ai để người ta phải xé lòng lột bỏ kiêu hãnh cho các ngươi thấy giá trị họ trần truồng và kiêu hãnh họ không bối rối?
Trước hết hãy gắng tự xứng làm một kẻ cho và một dụng cụ của sự cho
Vì thật ra, đó là đời sống lại cho đời sống trong khi các ngươi ngỡ mình là người cho, lại chỉ là nhân chứng

Và hỡi những kẻ nhận vì các ngươi đều là kẻ nhận, chớ gánh lấy sự ghi ơn nào kẻo các ngươi đặt ách lên chính bản thân và trên kẻ cho
Tốt hơn hãy đứng cùng kẻ cho trên tặng phẩm hắn như trên đôi cánh
Vì quá băn khoăn về món nợ các ngươi tức là nghi ngờ lượng rộng mà mẹ là lòng đất bao dung và cha là Thượng Đế của kẻ cho


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Hôn nhân (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Almitra lại cất tiếng: Thưa thầy, còn về HÔN NHÂN thì thế nào?
Người đáp:
Các ngươi sanh ra gần nhau thì sẽ gần nhau mãi mãi
Các ngươi sẽ gần nhau cho tới khi đôi cánh trắng tử thần đến phá nát ngày mình
Phải, các ngươi sẽ gần nhau ngay trong ký ức câm nín của Thượng Đế
Nhưng hãy có những khoảng cách trong sự chung đụng
Và để gió thiên đàng nhảy múa giữa các ngươi
Hãy yêu nhau nhưng chớ kết một dây tình
Tốt hơn, hãy có một biển di động giữa bờ hồn các ngươi
Hãy rót đầy chén nhau nhưng chớ uống cùng một chén
Hãy lấy bánh mình cho nhau nhưng chớ ăn cùng một ổ bánh
Hãy múa hát cùng nhau và vui sướng nhưng hãy để mỗi người được yên
Ngay những dây tỳ bà cũng riêng rẽ dù cùng rung theo một điệu nhạc
Hãy đem cho lòng mình nhưng đừng giao người kia cất giữ
Vì chỉ tay Đời mới chứa nổi lòng người
Và đứng cùng nhau nhưng chớ gần nhau quá
Vì những cột đền thờ cách xa nhau
Và cây sồi, cây bạch dương không mọc trong bóng râm của nhau


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Quần áo (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Người thợ dệt thưa: Xin hãy nói về QUẦN ÁO
Người đáp:
Quần áo che đậy nhiều vẻ đẹp các ngươi nhưng chẳng dấu nổi cái không đẹp
Dẫu tìm trong y phục sự tự do riêng tư, các ngươi sẽ thấy nơi chúng yên cương và xiềng xích
Chớ chi da các ngươi được gặp nắng gió nhiều hơn quần áo
Vì hơi thở đời ở trong nắng và tay đời nằm trong gió
Vài kẻ trong bọn ngươi nói “Gió bấc dệt nên áo quần ta mặc”
Còn ta bảo, Phải, chính gió bấc
Nhưng nhục nhã là khung cửi hắn và nhu nhược của những đường gân là tơ sợi hắn
Khi việc đã xong, hắn cười vang trong rừng
Chớ quên khiêm tốn là tấm mộc ngăn mắt kẻ ô uế
Khi kẻ ô uế không còn thì khiêm tốn là chi hay cái còng và sự đồi bại của tâm hồn?
Chớ quên rằng đất sung sướng đón chân trần các ngươi và gió khao khát được đùa cùng tóc các ngươi


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Kahlil Gibran, Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Lý trí và đam mê (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Và người nữ tăng lại cất tiếng nói: Xin hãy dạy chúng tôi về LÝ TRÍ VÀ ĐAM MÊ
Người nói:
Hồn các ngươi thường là một chiến trường, trên đó lý trí và phán đoán các ngươi giao tranh cùng đam mê và khát vọng
Chớ chi ta là kẻ hoà giải trong hồn các ngươi, để đổi mối bất hoà và tranh cạnh giữa những phần tử thành một mối, một hoà điệu
Nhưng làm sao ta có thể, trừ khi chính các ngươi cũng là những kẻ hoà giải, hay đúng hơn những tình nhân của mọi phần tử mình?
Lý trí và đam mê là bánh lái và những cánh buồm cho linh hồn vượt biển của các ngươi
Nếu những cánh buồm hay bánh lái gãy vỡ, các ngươi chỉ có thể lắc lư trôi dạt, hay đứng lặng chỗ giữa biển khơi
Vì lý trí, cai quản đơn độc là một quyền năng hạn chế, và đam mê, không được canh chừng, là một ngọn lửa tự huỷ
Vậy hãy để linh hồn các ngươi kích thích lý trí tới cao độ của đam mê, cất lên tiếng hát
Và hãy để linh hồn các ngươi hướng dẫn đam mê bằng lý trí, khiến đam mê ấy được sống qua sự phục sinh thường nhật như chim phượng hoàng trỗi dậy trên đám tro tàn

Ta muốn các ngươi coi phán đoán và khát vọng như hai khách quý trong nhà
Chắc chắn các ngươi sẽ không tôn người khách này hơn người kia; vì ai lưu tâm đến một người sẽ mất tình yêu và lòng tin của cả hai
Giữa những ngọn đồi, khi các ngươi ngồi trong bóng mát những cây bạch dương, chung an lành và êm đềm với những đồng ruộng xa - hãy để lòng mình nói trong im lặng “Thượng Đế an ngự trong lý trí”
Khi giông bão tới, gió lớn rung rừng cây, sấm chớp công bố oai trời - hãy để lòng các ngươi nói trong kinh sợ “Thượng Đế di động trong đam mê”
Và vì các ngươi là một hơi thở trong tinh cầu của Thượng Đế, một chiếc lá trong rừng ngài, các ngươi cũng sẽ an ngự trong lý trí và di động trong đam mê


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Kahlil Gibran, Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Đau đớn (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Có một người đàn bà thưa: Xin hãy nói về ĐAU ĐỚN
Người đáp:
Đau đơn là sự đập vỡ lớp vỏ bao quanh hiểu biết của các ngươi
Như hạt phải vỡ để nhân ra ngoài nắng, các ngươi cũng phải biết đớn đau
Nếu các ngươi có thể giữ lòng kinh ngạc trước những phép màu thường nhật trong đời mình, đau đớn sẽ không kém vẻ kỳ diệu của hoan lạc
Các ngươi sẽ chấp nhận những mùa của lòng mình, như vẫn thường chấp nhận mọi mùa qua trên đồng
Và các ngươi sẽ thanh thản ngắm suốt những mùa đông của sầu đau mình

Phần lớn những đau đớn các ngươi là tự chọn
Nó là liều thuốc đắng vị lương y trong các ngươi chữa lành thân xác đau ốm của các ngươi
Do đó hãy tin cậy vị lương y và uống thuốc ông trong yên lặng và trầm tĩnh
Vì tay ông dẫu nặng nề và cứng rắn, đã được hướng dẫn bởi chính bàn tay dịu dàng của Đấng Vô Hình
Và chén ông mang tới, dẫu bỏng môi các ngươi đã được làm bằng đất sét mà Thợ Tạo đã thấm ướt với chính những giọt lệ thiêng của Ngài


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Kahlil Gibran, Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Tàu đến (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Almustapha, đấng được chọn, được yêu, và là bình minh ngay đương thời, mười hai năm ở trong thành Ô-Phan đợi con tàu trở lại đón về hòn đảo nơi người chào đời
Vào năm thứ mười hai, ngày mồng bảy tháng gặt hái, người leo lên ngọn đồi mé ngoài tường thành ngóng ra biển; và thấy tàu mình tiến vào giữa màn sương
Bấy giờ các cánh cửa lòng người rộng mở, niềm vui bay xa tít ngoài khơi. Người nhắm mắt và nguyện cầu trong hồn im lặng
Nhưng khi xuống đồi, một mối sầu chợt đến, người thầm nghĩ:
Làm sao ra đi thanh thản chẳng sầu não? Không đâu, ta sẽ rời thành phố này với một vết thương trong hồn
Dài sao những ngày đớn đau ta đã sống giữa những bức tường thành, và dài sao là những đêm cô đơn; ai đành tâm rời niềm đau và nỗi cô đơn của mình mà chẳng luyến thương?
Bao mảnh hồn ta đã vãi trên những đường phố này, bao đứa con khát vọng ta đã trần truồng đi giữa những đồi này, ta không thể lìa chúng mà không nặng lòng và đau nhức
Không phải một bộ y trang hôm nay ta vứt bỏ mà là một lớp da ta tự lột bằng tay
Không phải một ý nghĩ ta để lại đằng sau mà là một trái tim đói khát đã làm cho dịu ngọt
Nhưng ta không thể chần chờ nữa
Đại dương thường gọi mọi vật trở về đang vời ta, và ta phải lên tàu
Vì ở lại, cho dù thời gian nồng cháy trong đêm, sẽ là đông giá, kết tinh và chịu ràng buộc vào khuôn thước
Ta hẳn sẵn lòng đem theo mọi thứ ở đây
Nhưng biết làm sao?
Giọng nói không chở nổi lưỡi và môi đã chắp cánh cho nó. Một mình nó phải kiếm vòm trời
Và một mình không tổ ấm, chim ó bay ngang thái dương

Bấy giờ khi tới chân đồi, người lại hướng về biển, và thấy con tàu đang tiến vào cảng, trên mũi tàu là những thuỷ thủ, những kẻ đồng hương của người
Hồn người cất tiếng gọi họ, người nói:
Hỡi các con trai của mẹ ta xưa, những người cưỡi hải triều
Đã bao lần các ngươi giong buồm trong những giấc ta mơ. Và bây giờ các ngươi đến lúc ta tỉnh thức, đấy là giấc mơ sâu thẳm hơn
Ta đã sẵn sàng lên đường, nỗi hăng say của ta trương hết buồm đón gió
Ta chỉ thở một hơi nữa trong bầu không khí lắng đọng này, chỉ gởi lại mé sau một thoáng nhìn thân ái nữa thôi
Rồi ta sẽ đứng giữa các ngươi, một thuỷ thủ giữa những thuỷ thủ
Và ngươi nữa, hỡi đại dương bao la, người mẹ chẳng hề yên ngủ
Chỉ mình người là an bình, tự do cho sông suối
Dòng suối này chỉ uốn một khúc nữa thôi, chỉ thì thào một lần cuối trong khoảng vắng này
Và rồi ta sẽ đến với ngươi, một giọt nước vô biên hoà trong một đại dương vô biên
Vừa cất bước, người thấy từ xa đàn ông đàn bà rời những cánh đồng và vườn nho, hối hả tuôn về cổng thành
Người nghe tiếng họ gọi tên mình, réo khắp các cánh đồng, bảo nhau rằng tàu đã đến
Và người tự nhủ:
Có lẽ nào ngày chia tay lại là ngày họp mặt?
Có lẽ nào xế chiều ta lại là bình minh ta?
Ta có gì đem cho người buông tay cày giữa luống, cho người dừng bánh xe ép nho?
Chớ chi tim ta thành một cây trĩu trái để ta hái tặng họ?
Và khát vọng ta chảy như suối để ta rót đầy chén họ?
Ta há là đàn phụ cầm để bàn tay đấng cao cả chạm đến, hay một ống sáo để hơi thở của ngài luồn qua?
Là một kẻ kiếm tìm im lặng, ta đã thấy kho báu nào trong im lặng để có thể vững lòng đem phân phát?
Nếu đây là ngày mùa của ta, thì ta đã gieo mạ trong ruộng nào, vào mùa nào chẳng nhớ vậy?
Nếu đây quả là giờ cho ta dâng đèn lên thì ngọn lửa ta chẳng cháy trong ấy
Ta sẽ nâng lên ngọn đèn tối tăm trống rỗng
Và người canh đêm sẽ rót dầu, châm lửa cho đèn
Người nói những điều trên thành lời. Nhưng phần lớn lòng người vô ngôn. Vì chính người cũng chẳng thể nói lên nỗi bí ẩn sâu kín của mình
Khi người vào thành, mọi người tìm đến và đồng thanh kêu người
Những bậc cao niên trong thành đứng dậy nói:
Xin chớ vội rời xa chúng tôi
Người từng là ánh ngọ của chúng tôi giữa buổi tranh tối tranh sáng, và tuổi trẻ người đã cho chúng tôi những giấc mộng để nằm mơ
Người không là kẻ xa lạ giữa chúng tôi, cũng chẳng phải khách, mà là con trai, kẻ rất đỗi yêu dấu của chúng tôi
Xin chớ để mắt chúng tôi phải đói khát khuôn mặt người
Những thầy tế lễ và các nữ tăng đều thưa cùng người:
Xin chớ để sóng biển chia cách ta lúc này, và những năm tháng người đã sống giữa chúng tôi trở thành kỷ niệm
Người đã đi giữa chúng tôi như một thần linh, bóng người là ánh sáng soi mặt chúng tôi
Chúng tôi rất đỗi yêu người. Nhưng tình yêu chúng tôi câm lặng và bị mạng che
Nay tình yêu ấy lớn tiếng gọi và muốn bộc lộ trước người
Đã từ bao giờ tình yêu chẳng dò nổi bề sâu của chính mình cho đến lúc chia tay
Và những người khác đứng lên cầu khẩn, nài người
Nhưng người không đáp lời họ. Người chỉ cúi đầu, và những kẻ đứng gần thấy nước mắt rơi xuống ngực người. Người và dân cùng đi tới vuông đất lớn trước đền thờ
Từ trong đền bước ra một thiếu phụ tên Almitra. Nàng là một nữ tiên tri
Người nhìn nàng rất đỗi dịu dàng vì chính nàng là kẻ đầu tiên tìm đến tin cậy nơi người khi người mới đến thành phố họ được một ngày
Nàng cất tiếng chào mừng người:
Hỡi tiên tri của Thượng Đế, mãi tìm kiếm sự vô cùng, tự lâu người tìm tàu mình nơi chốn xa
Nay tàu đã tới, người cần phải lên đường
Sâu thẳm sao lòng người hoài vọng về miền đất ký ức, nơi cư trú những khát khao vĩ đại hơn của người, tình yêu chúng tôi chẳng nên ràng buộc người cũng như sự cần thiết của chúng tôi chẳng nên cầm giữ người
Tuy nhiên trước khi rời bỏ chúng tôi, xin hãy nói và ban cho chúng tôi chân lý người
Chúng tôi sẽ giao lại cho con cái, và chúng sẽ truyền lại cho con cháu chúng, sẽ chẳng thể hư mất
Trong cô đơn người đã ngắm nhìn với những ngày ở cùng chúng tôi, trong tỉnh táo người đã lắng nghe giọng chúng tôi cười khóc trong mơ
Bởi thế, giờ đây xin tiết lộ chúng tôi cho chính chúng tôi, và xin nói hết những gì đã vạch cho người giữa sự sinh và tử
Người đáp lời:
Hỡi dân thành Ô-Phan, ta biết nói về gì ngoài những điều ngay lúc này đang di động trong hồn các ngươi?


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975
Ảnh đại diện

Con cái (Kahlil Gibran): Bản dịch của Phạm Bích Thuỷ

Một người đàn bà ôm hài nhi trước ngực thưa:
Xin người dạy chúng tôi về CON CÁI
Người nói:
Con cái các ngươi chẳng phải là con cái các ngươi
Chúng là con trai, con gái Đời tự khao khát bản thân
Chúng đến qua các ngươi nhưng chẳng từ các ngươi
Và dẫu ở cùng các ngươi, cũng chẳng thuộc về các ngươi
Các ngươi có thể cho chúng tình yêu nhưng không thể cho chúng tư tưởng mình
Vì chúng có tư tưởng riêng
Các ngươi có thể nuôi thân xác chúng trong nhà nhưng linh hồn chúng thì không
Vì hồn chúng ở nhà của ngày mai, nơi các ngươi không thể thăm viếng dù trong mơ
Các ngươi có thể gắng sức trở nên giống chúng, nhưng chớ tìm cách làm chúng giống mình
Vì đời sống không đi lui, cũng chẳng lần lữa với ngày qua

Các ngươi là những cây cung từ đấy con cái các ngươi tựa những mũi tên sống được bắn đi
Người bắn cung thấy đích trên đường vô cùng
Ngài uốn các ngươi bằng sức mạnh để những mũi tên Ngài được bắn đi mau và xa
Hãy hoan hỉ uốn mình trong tay người bắn cung
Vì dẫu yêu mũi tên bay đi, Ngài cũng yêu cây cung vững


Nguồn: Mật khải (The Prophet), Phạm Bích Thuỷ dịch, NXB Hiện đại, 1975

Trang trong tổng số 3 trang (26 bài trả lời)
[1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối