Dưới đây là các bài dịch của Phạm Đức Duật. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 5 trang (42 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Đồng nhân phiếm chu du Tây Hồ (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Phạm Đức Duật

Ban mai cưỡi ngựa đến Tây Hồ,
Chờ chiếc thuyền con vượt sóng xô.
Mặt nước in mây như thuở trước,
Mái chèo quyện chén vẫn trong mơ.
Đã không thi họa chung hồn đẹp,
Sao có thanh danh, tựa kẻ nhu.
Làn sóng ngoài khơi tầm viễn vọng,
Bóng cờ lớp lớp át mây mù.

Ảnh đại diện

Ư Kiếm Hồ Ngọc Sơn tống Hàn lâm Bùi Tử Huy Côn chi kinh (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Phạm Đức Duật

Nề nếp gia môn giữ nghĩa trung,
Hậu sinh ý hợp mấy ai cùng.
Ngọc Sơn đâu dễ giam chân báo,
Rừng bút vui nhìn cao cánh hồng.
Mây nổi qua non liền biển biếc,
Nước thu nhớ bạn một hồ không.
Làm quan nếu hỏi Phương Đình ý.
Già yếu còn đây một lão ông.

Ảnh đại diện

Đông sơ Ngọc Sơn phổ yêu thưởng cúc, phục ư ca chu trung ngoạn hồ cảnh (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Phạm Đức Duật

Người dựng cuộc vui ta cũng vui,
Biên cương thế giặc vẫn chưa lui.
Cúc vàng nở rộ chừng thu cuối,
Cỏ biếc khô tàn đến lạnh rồi.
Trước núi hát nghêu bài chẳng định,
Trong thuyền ngâm vịnh nước mây trôi.
Chỗ xưa thanh kiếm chìm đâu thấy,
Vật quí lan xa sóng dập vùi.

Ảnh đại diện

Quý Hợi xuân đán chế đài Hoàng Trung Thừa, phiên viện Lê Bang Bá vi Kiếm Hồ Ngọc Sơn hội kỷ thắng (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Phạm Đức Duật

Bồng lai bầu rượu thú chăng là,
Hồ núi ngày xuân đẹp tựa hoa.
Danh vọng đại nhân vui thủy sắc,
Phúc cầu dân chúng thỏa dương hòa.
Mạnh hèn rõ thế nhàn binh mã,
Xuôi ngược mặc dòng sẵn tửu ca.
Đất nước nổi danh bao kiệt tướng,
Tinh thần tỏa rạng sóng bao la.

Ảnh đại diện

Đồng Nguyễn Chí Đình đăng La Thành đông môn đài quan hà trướng hữu cảm y Chí Đình nguyên vận (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Phạm Đức Duật

La Thành chẳng giống lúc ban đầu,
Bài phú nghĩ suy giống quả bầu.
Thẳng bắc đầy vơi toàn thế núi,
Về đông tự cổ nửa dòng sâu.
Lên cao tay nắm ba điều ích,
Nhìn lụt lòng đau bốn nỗi sầu.
Mong sự đầy vơi tiêu tan hết,
Chân trời nguồn nước sáng tươi mầu

Ảnh đại diện

Giáp Dần chư lộ phỉ khởi, Hà Nội thụ hại tối thậm; kim niên đại thuỷ diệc thậm ư lân tỉnh, ngưỡng mông ân chẩn xuất cách quyên xá nại... (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Phạm Đức Duật

Nước ngập, binh đao mãi chẳng cùng,
Đất này nghi lễ giống Tần Trung.
Lụt vừa qua khỏi, đông càng hạn,
Đói đến liền ngay, trộm vẫy vùng.
Thóc gạo hiếm khan đâu chịu được,
Hái liềm cầm bán cảnh lao lung.
Đất trời nghiêng ngả khôn lường trước,
Vất vả nhà vua chẳng ngại ngùng.

Ảnh đại diện

Lộ quá Bắc Ninh, Hải Dương tức sự hữu cảm ngũ cổ thập lục vận (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Phạm Đức Duật

Thương thay dân Bắc Kỳ,
Gặp xuân này Mậu Ngọ.
Khắp nơi muốn chuyển đi,
Chết đói không bờ bến.
Thưng đấu tính chi ly,
Dân ngồi chờ bố thí.
Gạo tấm đua tay xin,
Của nào hơn người chết.
Ân đức chẳng đủ vin,
Vận trời ư, hãy hỏi.
Hà, Định lụt liên miên,
Dân đói cần manh chiếu.
Đông Bắc họa khắp miền,
Chua cay tràn khắp chốn.
Ví không lại mất mùa,
Thấy sao ơn cung đốn.
Vệ nông cần kế xa,
Bề tôi người trách nhiệm.
Cách phòng bị đề ra.
Ngày nối ngày tranh chấp.
Của công có hạn mà,
Của riêng ai người dốc.
Công lao ơn của trời,
Bắc Ninh dân túng thiếu.
Nhà vua thật khó lường,
Trời cao cũng thương cảm.
Trừ lụt muốn tìm phương,
Làm hồ phòng bất trắc.
Nghĩ xong ngoảnh lại nhìn,
Bước đi, lòng thắc mắc.

Ảnh đại diện

Diệp mã nhi phú (Đoàn Xuân Lôi): Bản dịch của Nguyễn Đức Vân, Phạm Đức Duật

Kìa tạo hoá sinh ra muôn vật, phú cho hình lớn nhỏ khác nhau.
Kìa là sâu hay lá khôn phân, động hay thực khó bề biết được.
Sao con ngựa ở trên lá nọ, do kết hợp giả mà thành hình.
Úp lá xuống thì lưng thành loài có vằn có sống, ngửa lá lên thù bụng mầu lục không héo không khô.
Hai sừng nhọn như ngọc, tựa hái lá vông là đồ chơi; bốn móng sáng như sương, tựa chạm gỗ chử làm hình mẫu.
Thân đủ mà nhỏ con, cao đầu mà rộng ngực; náu hình không phân biệt, càng kết hay hoa phô.
Hình nhỏ nên nhìn khó thấy, mỏng manh chợt có chợt không.
Thấy ôm lá bảo là ve sao lại tiếng kêu không giống, tưởng Trang Chu cho là bướm thế mà lưng bụng khôn so.
Phải chăng lá chuối che hươu, thuyết xưa hoang đản; hay cũng con nai bọc cỏ, câu chuyện nói vu vơ.
Phải nhận rằng trời giáng con sâu điềm tốt, mà hình trạng như loài ngựa rồng.

Nhớ khi:
Rừng rậm rạt rào, lá ngàn lác đác.
Khi sắc re re, gió sường xào xạc.
Không dùng cương ngựa, ai hay giữ được ngựa tài; biết mấy xuân thu, cười mãi lờn cùng ve xác.
Vút cành khô mà vỗ cánh, Ký Bắc sạch không; ...
... không về; dù thân mọn xin thề báo đáp.

Nghĩ mày:
Xưa trốn nơi đồng rậm, nay tới chốn đồng trời.
Không chịu với cỏ cây cùng nát, kính mến vì ơn lớn dưỡng nuôi.
Trên cành ngọc đặt chân nương tựa, trước rèm châu dừng bóng nghỉ ngơi.
Chiều uống móc ngọt cây mộc lan, sáng hớp khói lành nơi phủ tía.
Một liếc, thành gấp trăm giá bội; chỉ tay, mà đi đứng phất roi.
Đặc ngoài phương tướng mạo để phân biệt đực cái, đen vàng; tránh khỏi sự ngửa nghiêng của mọi lẽ thở ăn, đi đứng.
Trộm thấy hoá công tạo vật rất tài, biết rằng hiền tướng dựng xây thật khéo.

Than ôi!
Người vốn lâu dài, thời đang thịnh trị.
Đã hay giữ được thái hoà, lại đáng tụ về muôn phúc.
Trời sinh sâu này, há không có ý.
Dáng hình con ngựa, tỏ rằng quân tử được xe; kết lá làm nên, thấy được nhân dân nhờ cậy.

Vả chăng:
Ngựa là rồng vậy, ứng điềm mở đất vô cùng; lá tựa tốt tươi, tỏ triệu dòng truyền bách thế.
Huống giống sâu này: sinh ra trên đất Kim Âu, rạng rỡ ở nơi thiên động.
Nhằm Linh Đai vừa lúc xây nền, gặp Lạc Ấp đang khi dựng móng.
Gặp giống côn trùng, muôn năm hệ trọng.

Thân thấp hèn may được thái bình, điểm tốt đẹp mở tầm mắt rộng.
Cảm thân gỗ mục mà được tái sinh, gánh vác nặng nề kể chi chết sống.
Phương Trì, Kim Mã nhận thưởng vinh, Lãng Uyển, Bồng Hồ cửu tiên lồng lộng.
Tài chạm trùng khắc triện vẫn biết chửa thông, phú tìm được tôi hiền kính dâng lời tụng.


Ảnh đại diện

Quan xá (Trần Quan): Bản dịch của Phạm Đức Duật

Mây chiều đọng lại động Hoàng Long,
Chích Trợ ban mai tuyết cuộn dòng.
Công việc rảnh rồi xuôi hải quốc,
Chim âu dẫn lối, vượt khe vòng.

Ảnh đại diện

Quá Phong Khê (Trần Lôi): Bản dịch của Tuấn Nghi, Phạm Đức Duật

Lãng Bạc diều rơi xuống,
Phong Khê đắp Kiển Thành.
Một thời khăn yếm đấy,
Vang dội lập công danh.

Trang trong tổng số 5 trang (42 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối