Dưới đây là các bài dịch của Nhân Phủ. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 1 trang (10 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Đề Dục Thuý sơn kỳ 2 (Nguyễn Thượng Hiền): Bản dịch của Nhân Phủ

Đá trắng khe trong cảnh vẫn bên,
Khách du năm cũ khuất non tiên.
Cúc vàng nay vẽ đường hương liễn,
Núi biếc xưa phong cửa ẩn thiền.
Thành quách người còn say giấc mộng,
Quan hà khoá đã lỏng tay then.
Dấu thơm dật sĩ tìm đâu thấy,
Vằng vặc dòng sông bóng rọi thuyền.


Nguồn: Cao Tự Thanh, Việt Nam bách gia thi, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2005
Ảnh đại diện

Đề Yên Tử sơn (Lê Quý Đôn): Bản dịch của Nhân Phủ

Ngồi ở Yên sơn đệ nhất phong,
Canh năm đã thấy rực vầng hồng.
Bể khơi, phóng rộng tầm con mắt,
Mây biếc, nô cười bóng lẫn trong.

Ảnh đại diện

Giải vịnh (Vũ Phạm Hàm): Bản dịch của Nhân Phủ Lê Thế Vinh

Khuôn thiêng sẵn có đủ phân minh
"Không ruột" đời sao dám phẩm bình
Cỏ nộ thân này còn hữu dụng
Giang sơn đâu cũng vẫn hoành hành
Gấm hoa đầy bụng: văn tâm đẹp
Qua Giáp đương đầu: võ nghệ tinh
Thiên hạ chính đang khao khát đấy
Vắng người ai kẻ đứng điều canh

Ảnh đại diện

Đề Dục Thuý sơn kỳ 1 (Nguyễn Thượng Hiền): Bản dịch của Nhân Phủ

Một làn nước biếc, một lương đài,
Mặc khách đi về, trước tới nay.
Đá trắng có duyên, mòn chữ khắc,
Cúc vàng cùng loạt nở hoa đầy.
Việc hư, chim biết: cây cao hót,
Bụi bám, non ghê: rêu phủ dầy.
Bút ngự, xe loan, trơ lại đó,
Nay là rừng rậm, trước Bồng Lai...

Ảnh đại diện

Cổ Lộng thành (Lê Quý Đôn): Bản dịch của Nhân Phủ

Hơn bốn trăm năm cuộc bể dâu:
Đậu, dưa, tươi tốt lấn bên nhau...
Sóng tràn lâng sạch hờn Trần đế,
Cỏ rậm khôn che thẹn Mộc hầu!
Trâu kéo ruộng mưa tròi cổ kiếm,
Chim run bóng nguyệt nép tàn lâu.
Ai về nhắn lũ xâm lăng nọ:
Tiếng dậy Đường Ngu chỉ chín châu!


Ảnh đại diện

Đề Từ Thức động (Lê Quý Đôn): Bản dịch của Nhân Phủ

Thần tiên vẫn bảo chuyện mơ màng,
Động Bích Đào kia cỏ mọc hoang.
Trời bể tìm tòi, mê huyện Thức!
Nước mây chờ đợi, mệt nàng Hương!
Vang om thạch động trăng gần sáng,
Nhạt nhẽo diêm điền muối đẵm sương,
Giấc mộng Thiên Thai mong mỏi mãi,
Ai hay cũng chỉ hí du trường!

Ảnh đại diện

Đề Tào Tháo chi mộ (Bùi Văn Dị): Bản dịch của Lê quân Nhân Phủ

Thăm thẳm sông Chương cỏ rợp đường,
Lâu đài ca múa thảy vu hoang.
Tam phân sự nghiệp trơ màu đất,
Bảy chục nghi phần dãi bóng dương.
Xơ xác đậu đồng tài tử lệ,
Úa hoa tàn nội mỹ nhân hương.
Còn trơ mảnh ngói đền Đồng Tước,
Mài mực lâm li biết hận trường.

Ảnh đại diện

Đề hoàng cúc (Bùi Văn Dị): Bản dịch của Lê quân Nhân Phủ

Nghiền vụn vàng thu dệt cồn ba
May thành áo ngự tiến vua cha
Từ xưa chính sắc vang thiên hạ
Nào ngại hàn hương muộn tuế hoa,
Bóng lướt quanh thềm sao muốn lặn
Lá um kế vách nguyệt thêm tà
Xa xa thượng uyển hương còn thoảng
Chợt nhớ u lan bến nước sa...

Ảnh đại diện

Đề Hoàng Hạc lâu (Bùi Văn Dị): Bản dịch của Lê quân Nhân Phủ

Lầu bến trông ra thẳm bụi trần,
Hương bay phảng phất thoát tựa thần.
Hạc vàng mây trắng ngàn năm cũ,
Sóng biếc cây xanh một giải xuân.
Tiễn khách tiên ông qua mấy buổi?
Trước ta, thi lão tới bao lần.
Nghẹn ngào thương đến mồ anh vũ,
Hận phú nhờ ai viếng cố nhân.

Ảnh đại diện

Tự thuật (Tống Duy Tân): Bản dịch của Nhân Phủ

Cảnh cũ qua chơi một chiếc thuyền,
Phong quan ngảnh lại tứ vô biên.
Vợ mai con hạc quen thành thú,
Chị gió dì trăng vốn túc duyên.
Năm sắc văn nên, bay cửa động,
Chín thành nhạc tấu vẳng non tiên.
Núi sông phong cảnh còn như trước,
Tạm mấy vần thơ khắc đá truyền.


Nguồn: Cao Tự Thanh, Việt Nam bách gia thi, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2005

Trang trong tổng số 1 trang (10 bài trả lời)
[1]