Dưới đây là các bài dịch của Nguyễn Huy Hoàng. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 10 trang (93 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Chúc ngủ ngon (William Stanley Merwin): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Ngủ ngoan nhé tình xưa ơi
người đẹp tôi trong đêm tối
đêm là giấc mộng ta mơ
như em thấy như em hay

đêm là giấc mộng em hay
mối tình xưa trong đêm tối
ở bên em lúc em đi
chẳng tận cùng như em thấy

ở trong đêm nơi em đi
tình xưa ơi ngủ ngoan nhé
chẳng tận cùng trong đêm tối
trong mối tình mà em hay

Ảnh đại diện

Có vàng nào ở được đây (Robert Frost): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Vàng là màu xanh đầu tiên,
Màu khó giữ nhất Tự nhiên.
Lá non của Nàng là nụ;
Nhưng chỉ một giờ hoa rũ.
Rồi lá thành lá hạ mình:
Địa đàng chìm nỗi nhân sinh,
Bình minh ngày sa bước dậy.
Có vàng nào ở được đây.

Ảnh đại diện

Miên man hoang dại (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Bầu trời trước bình minh màu xanh lục ánh đen.
Có lẽ là một dấu hiệu.
Tôi nên học thêm về các dấu hiệu.

Rẽ một góc đến bến cảng
gió đập vào tôi
một cú đấm vào mặt.

Tôi luôn luôn đi bộ vào buổi sáng,
là vì sao tôi không biết nữa.
Đời thì ngắn.

Bóng của tôi đi trước tôi.
Với cái mũ áo dựng
nó trông như một chiếc còi báo sương.

Băng trên đường.
Băng trên vỉa hè.
Không còn nơi để bước.

Tốt hơn là bước
nơi có những viên đá đen nhỏ.
Sẽ không quá trơn trượt.

Tôi đoán những viên đá đen nhỏ
có thể là dung nham.
Hoặc tôi đang nghĩ quá.

Một người đàn ông vội vã đi qua
với một con chó nhỏ.
Chẳng ai nói Xin chào.

Một cô nữ sinh hồng đi qua.
Nhìn mặt tôi.
Chẳng ai nói Xin chào.

Ai lại nghĩ
sẽ nhìn thấy một cái còi báo sương di động
sớm đến thế.

Gió đẩy mạnh hơn.
Tôi đẩy lại.
Gần đến nhà.

Sao tôi lại đến đây.
Cơn gió mới mỗi ngày.
Đời là để đẩy lại.

Bây giờ là bình minh.
Một mí mắt vàng mở
trên bến cảng.

Những người sống ở đây
học cách không phàn nàn
về gió.

Tôi vào nhà và pha trà.
Ăn ngũ cốc.
Đọc ba trang Proust.

Proust đang phàn nàn
(đó là năm 1914)
về động từ savoir như cách mà các nhà báo dùng.

Ông nói họ dùng nó
không phải như một dấu hiệu của tương lai
mà là như một dấu hiệu của những ham muốn của họ—

dấu hiệu của cái mà họ muốn tương lai trở thành.
Điều đó thì có gì sai? Tôi nghĩ.
Tôi nên học thêm về các dấu hiệu.

Thứ đầu tiên tôi thấy
sáng đầu tiên tôi ra ngoài đi bộ ở Stykkishólmur
là một con quạ

to như một cái ghế.
Cái ghế đó đang làm gì trên nóc nhà thế? Tôi nghĩ
rồi nó vỗ cánh đi.

Một con quạ đủ lớn để gọi là raven.
Corvus corax theo hệ thống danh pháp hai phần của Linnaeus.
Mỗi con tạo ra tiếng

như cả một thị trấn quạ
trên đất nước quê hương tôi.
Ba tính từ tái diễn

trong văn chương về quạ là
ăn tạp.
Hiểm ác.

Phối ngẫu đơn.
Tôi chú ý đến phối ngẫu đơn.
Tôi kết hôn tháng Năm năm ngoái

và nghỉ tuần trăng mật ở Stykkishólmur.
Năm nay tôi trở lại Stykkishólmur
để sống với chồng

ba tháng trong một căn phòng nhỏ.
Cảnh một vợ một chồng cực đoan này
gần như là quá sức cho chúng tôi.

Thay vì sát hại nhau
chúng tôi thuê một chỗ thứ hai
(nhà của Greta)

gần cái vịnh.
Giờ thì chúng tôi vui vẻ
phối ngẫu kép.

Có những con quạ ở trên mái
ở cả hai nơi.
Có lẽ chúng đều cùng một lũ quạ.

Tôi không biết.
Nếu Roni Horn ở đây
thì cô sẽ nói quạ

cũng giống như là nước,
chúng miên man hoang dại.
Chúng là một dấu hiệu của Iceland.

Tôi nên học thêm về các dấu hiệu.
Tôi đến Stykkishólmur
để sống trong một thư viện.

Thư viện không chứa sách
mà chứa những dòng sông băng.
Những dòng sông băng thẳng đứng.

Im lặng.
Theo trật tự hoàn hảo như là sách.
Nhưng chúng đã tan.

Nó sẽ như thế nào
khi sống trong một thư viện
của những cuốn sách tan.

Với những câu văn tràn trên sàn
và toàn bộ dấu câu
lắng xuống đáy như cặn.

Nó sẽ thật hoang mang.
Không thể tha thứ được.
Một cuộc phiêu lưu vĩ đại.

Roni Horn từng bảo tôi
rằng một nhà thám hiểm Nam Cực nói
Có một cuộc phiêu lưu

là một dấu hiệu của sự bất lực.

Khi tôi cảm thấy mình
vào lúc bất lực nhất

như tôi thấy ở Stykkishólmur
nhiều buổi sáng tối tăm
đi bộ vào trong gió,

tôi cố gắng gợi lên trong tâm trí
một cái gì đó đối lập với sự bất lực.
Ví dụ như quả trứng.

Hình thức hoàn hảo này.
Nội dung hoàn hảo.
Đồ ăn hoàn hảo.

Trong mơ
một nhà thám hiểm gần đây hơn (Anna Freud) nói
bạn có thể luộc trứng hoàn hảo như bạn muốn

nhưng không thể ăn nó.

Đôi khi vào ban đêm
khi tôi không ngủ được

vì gió
tôi đi và đứng
trong thư viện của những dòng sông băng.

Tôi đứng trong một thế giới khác.
Không phải là quá khứ không phải là tương lai.
Không phải là thiên đường không phải là thực tại không phải

một giấc mơ.
Một thứ quyền năng khác,
hoang dại và miên man.

Ai biết vì sao nó tồn tại.
Tôi đứng giữa những dòng sông băng.
Nghe cơn gió bên ngoài

đổ về phía tôi từ những cạnh ngoài của đêm và không gian.
Tôi không có giả thuyết nào
sao chúng tôi ở đây

hay ai trong chúng tôi là dấu hiệu của điều gì.
Nhưng một căn phòng của những dòng sông băng tan
lắc lư trong cơn gió đêm của Stykkishólmur

là một nơi thích hợp để nghiền ngẫm nó.
Mỗi sông băng đều được thắp sáng từ bên dưới
như là ký ức.

Proust nói ký ức có hai loại.
Có cơn vắt óc hằng ngày để nhớ
chúng ta để kính đọc ở đâu

và có một cơn khao khát sâu đậm hơn
đi lên từ dưới đáy
của trái tim

một cách vô tình.
Vào những lúc đột ngột.
Vì những lẽ bất ngờ.

Đây là một đoạn trích trong một bức thư mà Proust viết
năm 1913:
Chúng ta nghĩ chúng ta không còn yêu những người đã khuất

nhưng đó là vì chúng ta không nhớ đến họ:
đột nhiên
chúng ta gặp một chiếc găng tay cũ

và trào nước mắt.

Trước khi rời thư viện
tôi tắt hết đèn.

Những dòng sông băng tối lại.
Rồi tôi về căn nhà của Greta.
Đánh thức chồng tôi dậy.

Nhờ anh luộc cho chúng tôi chút trứng.

Ảnh đại diện

Tag (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

ĐÂY

Tháng Tư vô độ, cây trong chốn,
trong cái chốn trầy trật của chúng,
thế đứng của chúng.
Lối đứng.
Những khu vực cành đỏ của chúng,
những khu vực chồi xanh (sốc),
dòng sông, cái đó.
Tôi làm giật mình một con ngỗng và nó rít lên.
Tôi đi và đi với đôi bàn tay lạnh.
Về đến nhà nó lấp đầy với sự mong mỏi,
chẳng có gì để mang mong mỏi đi.
Tôi nhìn lại đời mình.
Tôi cố tìm những sự tương đồng.
Nhưng không có.
Tôi đã mong người ta trước đây, tôi đã yêu người ta trước đây.
Nó không giống như đây.
Nó không phải là đây.

Cho tôi một thế giới, anh đã lấy cái thế giới tôi là.


CỦA ANH

(“không thể thay đổi được”)
Thật ra là không phải. Bước nhảy nguỵ tạo vào—
dòng sông thoáng thấy qua trần
[chờ đợi]
[một danh từ] cho cái cách suy nghĩ đổ vỡ quanh anh không ở đây
quần áo anh không ướt trong tấm gương sâu này—
cái mà Hölderlin gọi là die Tageszeichen, những dấu hiệu
                             được ghi vào linh hồn bởi vị thần của mỗi ngày
câu trả lời để lại sẹo của anh, tôi vẫn không biết—
bao năm từ bây giờ, những
ký hiệu này trong sổ địa chỉ, bàn tay này cuồng điên.

Ảnh đại diện

Bài sonnet từ những câu mẫu trong chương liên quan đến bản chất của các đại từ trong cuốn “Những vấn đề trong ngôn ngữ học đại cương” của Emile Benveniste (Paris 1966) (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Lần này tôi tha thứ cho anh nhưng tôi sẽ không tha thứ cho anh nữa đâu.
Tôi thấy là anh ta tha thứ cho anh nhưng anh ta sẽ không tha thứ cho anh nữa đâu.
Tuy tôi ăn con cá này nhưng tên nó thì tôi không biết.
Tinh thần thì trông nom linh hồn đương nhiên.
Tôi cho là và tôi coi như.
Tôi đặt ra và tôi tiếp tục.
Tôi cho là tôi có một con ngựa.
Làm sao chị có thể mua được căn nhà này tôi nói và cô nói

Tôi có một cuộc ly hôn ngon nghẻ.
Người lạ được cảnh báo là ở đây có một con chó nhanh và dữ.
Gái điếm không có quyền lạc trong sương mù.
Với tai anh hay với linh hồn anh giọng của tôi không chịu đựng được?
Dù đặt tay lên đầu gối hay lên sự lưu loát của mình, Florinda vẫn lấy cớ đau đầu
và người kể chuyện kết luận, Vấn đề này không giải quyết được đâu.

Ảnh đại diện

Nói ngắn về thảo dược học (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Vị hoàng đế xem xét các lựa chọn. Ông mong mỏi làm sao
nhịp điệu của chiến dịch, cưỡi nhanh trong rừng mù sương,
cưỡi chậm ăn hạt đậu gà, cú kết liễu chính xác, những
thảo dược lạ nho nhỏ ở biên giới cho bộ sưu tập, những mùi
đăng đắng mới. Ông đứng dậy. Hãy bắt các sứ giả, ông nói.

Ảnh đại diện

Sự đố kỵ đại từ (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

là một cụm từ
được đặt ra bởi Cal Watkins
của Tổ Ngôn ngữ học Đại học Harvard
tháng Mười một năm 1971

để chê bai
những mối quan ngại nhất định
của các nữ sinh viên
Trường Thần học Harvard.

Trong một thế giới
nơi Chúa là “He”
và mọi người khác
là “mankind,”

thì cơ hội nào
chúng ta có cho
một chút sự chú ý?
dường như là câu hỏi của họ.

Cal Watkins—
một người kiên nhẫn sao—
không hề nói bạn vẽ-chuyện mớm-
tin thọc-gậy bới-lỗi phá-

bĩnh!

mà đúng hơn là
bản thân các đại từ
thì không đáng trách. Đó là hệ
đánh dấu Ấn-Âu.

Một hệ nhị phân.
Nó xem giới nam là giới
không bị đánh dấu. Như thể mọi
sinh vật trên thế giới
hoặc là khoá kéo

hoặc là ô liu,
chỉ trừ
ngày xưa ở lưu vực sông Ấn
năm 5000 TCN chúng ta đã quyết định
gọi chúng là khoá kéo

và phi khoá kéo.

Đến năm 1971,
nhóm phi khoá kéo
đã trở nên không yên.
Họ bắt đầu mang

còi kazoo đến các bài giảng
để nhấn chìm một số đại từ
và đặc điểm nam tính nhất định.
Giờ, cái kazoo

là một đồ chơi, một nguồn tiếng động.
Nó chải sạch không khí
ở nơi đó.
Bạn

có thể làm gì
với một mẩu không khí được chải sạch?
Có nhiều thứ.
Bạn có thể lấp đầy nó với các tân ngữ.

Hoặc với tái phân tích. Hoặc với
sự ngoại ứng.
Chúng ta hãy xem xét
sự ngoại ứng. Ngoại ứng

là thích ứng theo một hướng hướng ra.

Bạn có lẽ đã thấy
những hình ảnh của một loài khủng long
tên là archaeopteryx.
Có lông vũ

nhưng không bay.
Lông của nó giữ cho loài archaeopteryx
được ấm.
Trong khi đó ở mọi nơi

băng đang tan chảy.
Lông để
ấm
trở nên thừa.

Một đêm
loài archaeopteryx
ngoại ứng lông của nó—thành cánh—và
trên

những sân trường Harvard
dậy lên những sinh viên thần học
trong chuyến bay bạo lực,
thay đổi mọi thứ,

thay đổi không gì,
vút lên và chao lượn
dưới trăng,
dự định (không

nghi ngờ gì) không bao giờ trở lại
nhưng tất nhiên
điều đó tỏ ra là bất khả.
Họ đã trở lại,

họ hoàn thành bằng cấp của mình,
họ dùng cánh
để đánh các đại từ
trên một sân khúc côn cầu lớn

đằng sau Trường Thần học.

Đêm lạnh
xộc vào trán tôi
và một vùng cảm xúc ở bên trên dưới
lưỡi

khi tôi
nhớ lại những trận cầu ấy.
Nhưng bởi một hệ nhị phân
dùng số trong cơ số 2,
chỉ

cần 1 và 0
để thể hiện sự khác biệt của nó,
chúng tôi phải ghi điểm
trong bê bối và nỗi buồn,

trong tungsten và những con phố
xoắn dài, trong những dấu
áo-cô-dâu, lòng-thiếu-nữ,
trộm-nẫng, gió-đưa,

thạch-vững, sững-sờ,

giành-giật-qua-lại,
thế-giới-vô-cùng
của chính sự phát minh của chúng tôi.
Và đến ngày nay

nếu bạn nhìn đằng sau Trường
Thần học (và nếu bạn biết
mình phải tìm gì)
có thể bạn sẽ thấy một dư lượng nhỏ của

những đêm ấy.
Đây
là cái cần tìm:
một con ngựa lùn

đứng im lặng với một bên tai

cụp.
Nó dường như có
một chút chiếm đoạt mắc lại trong đó.
Nó lắc đầu và mọi thứ xung quanh

bạn, thấm đẫm
buổi đêm
và những cái sân và bất kể điều gì
có thể lấy đi và không thể lấy đi ở đó,


một mùi như
một bộ tuxedo mới.

Ảnh đại diện

Quy tắc mới (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Một sáng trắng của Năm Mới của lớp băng mới cứng.
Cao trên những cành cây đóng băng tôi thấy con sóc nhảy và trượt.
Thế có đáng sợ không? nó dường như nói và nhìn

xuống tôi, bám chặt lấy cành cây đang bập bềnh
vì giật mình co cứng—hay chỉ là mọi thứ có vẻ sai hôm nay?
Những cành cây

leng keng.
Nó lau cái đôi môi lạnh nhỏ bằng một tay.
Mày có sợ những thứ như

tao sợ? tôi đáp lại, nhìn lên.
Cái đế chế của những cành cây nó trượt trên không khí.
Đêm của những cái móc?

Lưỡi dao cạo để mở trên cầu thang?
Nó không còn xoay đủ mạnh, tình yêu đích thực của tôi nói
khi anh đi năm thứ năm của chúng tôi.

Con sóc bật xuống một cành cây
và bắt được một cái chốt của nước mắt.
Cái cách để tiếp tục là

những lời sau
thật
rõ.

Ảnh đại diện

Cái áo cardigan xanh dương cũ của cha (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Giờ nó treo trên lưng cái ghế bếp
nơi tôi luôn luôn ngồi, như nó treo
trên lưng cái ghế bếp nơi ông luôn luôn ngồi.

Tôi khoác nó lên mỗi khi tôi đi vào,
như ông khoác, giậm
tuyết bám khỏi bốt.

Tôi khoác nó lên và ngồi trong bóng tối.
Ông sẽ không làm như thế.
Cái lạnh đến cạo xuống từ xương-trăng trên trời.

Luật của ông là một bí mật.
Nhưng tôi nhớ cái khoảnh khắc tôi biết
ông sắp mất trí trong luật của ông.

Ông đang đứng ở khúc rẽ vào ngõ khi tôi đến.
Ông đang mặc cái cardigan xanh cúc cài từ chân lên tận cổ.
Không chỉ vì đó là một buổi chiều nóng tháng Bảy

mà còn vì dáng vẻ gương mặt ông—
như một đứa trẻ nhỏ được người dì mặc quần áo cho vào lúc sáng sớm
cho một chuyến đi dài

trên những chặng tàu lạnh và những sân ga gió
sẽ ngồi rất thẳng ở mép ghế của cậu
trong khi những cái bóng như những ngón tay dài

trên những đống cỏ khô quét qua
sẽ mãi làm cậu hốt hoảng
bởi vì cậu đang đi lùi.

Ảnh đại diện

Chúc hôn ca NYC (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Tôi gội đầu vào buổi sáng tôi kết hôn xỏ
vào
đôi bốt đỏ tìm giấy đăng ký đánh thức C. đến City
Hall
làm lễ cưới lái xe đến Fairway uống cốc trà
ngồi
trên ghế trên vỉa hè nhìn người đàn ông & người đàn bà
trên
băng ghế bên cạnh gần như đến đánh nhau vì cô
đổ
ketchup lên sandwich trứng của anh quá tệ họ không
thể
đổi của cô có xúc xích Đừng bao giờ đổ ketchup
lên
sandwich trứng của anh
anh gằn Anh đưa nó cho em mà

cự trong khi người cha đã già của họ chẳng hề để ý
đang
rút các mẩu báo ra từng mẩu một Cái này không
phải

ông nói Cái này từ bốn năm trước nhẹ nhàng một cách thật
đẹp
ông tiếp tục tìm vợ ông tôi cá đã giữ lại cả tập
khi
bà còn sống sương mù xanh tan chìm trên nước một bức
tượng
(Tự do) lướt cho chúng tôi một làn sóng từ bên kia vịnh.

Trang trong tổng số 10 trang (93 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối