Dưới đây là các bài dịch của Nguyễn Huy Hoàng. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 9 trang (90 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Để chẳng còn ánh sáng thương chúng ta (Rose Ausländer): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Chúng đến
với những lá cờ sắc lẹm và súng lục
bắn rụng hết sao trời và mặt trăng
để chẳng còn ánh sáng cho chúng ta
để chẳng còn ánh sáng thương chúng ta

Kể từ đó chúng ta chôn mặt trời
Một nhật thực bất tận

Ảnh đại diện

Ngày 1 tháng Giêng, 1965 (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Ba vua sẽ quên nơi ở của mi.
Sao sẽ không sáng như là mọi khi.
Chỉ có tiếng khàn của gió không đi
là mi vẫn nghe như cũ.
Bóng mi sẽ đổ xuống vai mệt mỏi,
trước khi nằm xuống nến kia mi thổi.
Bởi có nhiều đêm hơn nó cháy nổi
mà tờ lịch kia đang chứa.

Đó là cái gì? Nỗi buồn? Có thể.
Một giai điệu quen trong tim đã kể.
Nó lại cất lên. Vậy thì cứ để
cho nó lặp lại đêm nay.
Cứ để nó vang lên trong giờ chết,
với lòng biết ơn như môi và mắt
cho điều gì xa xôi trong khoảng cách
đôi khi mi dõi không hay.

Và nhìn lên trần nhà kia, im lặng,
bởi tất trống không, không quà ai tặng,
mi đã hiểu ra, trong sự cô quạnh:
tuổi mi, mi đã đủ khác.
Đã muộn để tin vào những phép lạ,
Và ngước mắt nhìn lên trời, rồi hạ,
Mi bỗng cảm thấy bản thân mi quả
là một món quà, dứt khoát.

Ảnh đại diện

Với cái chìa biến đổi (Paul Celan): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Với cái chìa biến đổi
mi mở ra ngôi nhà, nơi
trôi tuyết của điều không nói.
Tuỳ vào máu, chảy
từ mắt hay miệng hay tai,
mà cái chìa của mi biến đổi.

Chìa của mi biến đổi, lời biến đổi,
thứ được trôi với những bông tuyết.
Tuỳ vào cơn gió đẩy mi đi
mà tuyết cuộn lấy lời.

Ảnh đại diện

Mưa vàng (Mai Der Vang): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Đầu tiên, cái rát
trong mũi bạn.

Rồi ở trong mắt,
một lò lửa bùng lên

để đục ruỗng
khuôn mặt.

Ruồi trên
hốc mắt trống.

Giòi ăn
thủng làn da.

Thêm một con bò chết
bởi hít vào

trong khi bạn nuốt
cùng một bầu không khí.

Bao nhiêu ngày trước khi
đến đông bạn xám ngoét

trong hoang dã biến thành
nghĩa trang này tạm bợ.

Bao nhiêu giờ
trước khi có tổn thương,

trước khi thứ bạn nôn
làm cứng lại nền

đất. Ở một nơi nào đó
một mái nhà già đi lạnh lẽo,

chẳng còn được sưởi ấm
nhờ căn bếp

bạn từng chăm chút.
Chẳng ai đốt

vàng mã.
Chẳng ai tụng đường đi.

Ảnh đại diện

Hôn (Marina Svetaeva): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Một nụ hôn lên trán—để xoá tan u sầu.
Tôi hôn anh lên trán.

Một nụ hôn lên mi—để xua đi mất ngủ.
Tôi hôn anh lên mi.

Một nụ hôn lên môi—để dịu mồi cơn khát.
Tôi hôn anh lên môi.

Một nụ hôn lên trán—để xoá tan ký ức.
Tôi hôn anh lên trán.

Ảnh đại diện

Tháng tư và thinh lặng (Tomas Tranströmer): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Mùa xuân nằm hiu quạnh.
Cái mương màu sẫm nhung
trườn bên tôi
không mang hình phản chiếu.

Chỉ toả sáng
có những đoá hoa vàng.

Tôi được mang trong cái bóng của mình
như cây vĩ cầm
trong một chiếc hộp đen.

Điều duy nhất mà tôi muốn nói
lấp lánh ngoài tầm với
như món đồ bạc
ở một tiệm cầm đồ.

Ảnh đại diện

Chúc ngủ ngon (William Stanley Merwin): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Ngủ ngoan nhé tình xưa ơi
người đẹp tôi trong đêm tối
đêm là giấc mộng ta mơ
như em thấy như em hay

đêm là giấc mộng em hay
mối tình xưa trong đêm tối
ở bên em lúc em đi
chẳng tận cùng như em thấy

ở trong đêm nơi em đi
tình xưa ơi ngủ ngoan nhé
chẳng tận cùng trong đêm tối
trong mối tình mà em hay

Ảnh đại diện

Có vàng nào ở được đây (Robert Frost): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Vàng là màu xanh đầu tiên,
Màu khó giữ nhất Tự nhiên.
Lá non của Nàng là nụ;
Nhưng chỉ một giờ hoa rũ.
Rồi lá thành lá hạ mình:
Địa đàng chìm nỗi nhân sinh,
Bình minh ngày sa bước dậy.
Có vàng nào ở được đây.

Ảnh đại diện

Miên man hoang dại (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Bầu trời trước bình minh màu xanh lục ánh đen.
Có lẽ là một dấu hiệu.
Tôi nên học thêm về các dấu hiệu.

Rẽ một góc đến bến cảng
gió đập vào tôi
một cú đấm vào mặt.

Tôi luôn luôn đi bộ vào buổi sáng,
là vì sao tôi không biết nữa.
Đời thì ngắn.

Bóng của tôi đi trước tôi.
Với cái mũ áo dựng
nó trông như một chiếc còi báo sương.

Băng trên đường.
Băng trên vỉa hè.
Không còn nơi để bước.

Tốt hơn là bước
nơi có những viên đá đen nhỏ.
Sẽ không quá trơn trượt.

Tôi đoán những viên đá đen nhỏ
có thể là dung nham.
Hoặc tôi đang nghĩ quá.

Một người đàn ông vội vã đi qua
với một con chó nhỏ.
Chẳng ai nói Xin chào.

Một cô nữ sinh hồng đi qua.
Nhìn mặt tôi.
Chẳng ai nói Xin chào.

Ai lại nghĩ
sẽ nhìn thấy một cái còi báo sương di động
sớm đến thế.

Gió đẩy mạnh hơn.
Tôi đẩy lại.
Gần đến nhà.

Sao tôi lại đến đây.
Cơn gió mới mỗi ngày.
Đời là để đẩy lại.

Bây giờ là bình minh.
Một mí mắt vàng mở
trên bến cảng.

Những người sống ở đây
học cách không phàn nàn
về gió.

Tôi vào nhà và pha trà.
Ăn ngũ cốc.
Đọc ba trang Proust.

Proust đang phàn nàn
(đó là năm 1914)
về động từ savoir như cách mà các nhà báo dùng.

Ông nói họ dùng nó
không phải như một dấu hiệu của tương lai
mà là như một dấu hiệu của những ham muốn của họ—

dấu hiệu của cái mà họ muốn tương lai trở thành.
Điều đó thì có gì sai? Tôi nghĩ.
Tôi nên học thêm về các dấu hiệu.

Thứ đầu tiên tôi thấy
sáng đầu tiên tôi ra ngoài đi bộ ở Stykkishólmur
là một con quạ

to như một cái ghế.
Cái ghế đó đang làm gì trên nóc nhà thế? Tôi nghĩ
rồi nó vỗ cánh đi.

Một con quạ đủ lớn để gọi là raven.
Corvus corax theo hệ thống danh pháp hai phần của Linnaeus.
Mỗi con tạo ra tiếng

như cả một thị trấn quạ
trên đất nước quê hương tôi.
Ba tính từ tái diễn

trong văn chương về quạ là
ăn tạp.
Hiểm ác.

Phối ngẫu đơn.
Tôi chú ý đến phối ngẫu đơn.
Tôi kết hôn tháng Năm năm ngoái

và nghỉ tuần trăng mật ở Stykkishólmur.
Năm nay tôi trở lại Stykkishólmur
để sống với chồng

ba tháng trong một căn phòng nhỏ.
Cảnh một vợ một chồng cực đoan này
gần như là quá sức cho chúng tôi.

Thay vì sát hại nhau
chúng tôi thuê một chỗ thứ hai
(nhà của Greta)

gần cái vịnh.
Giờ thì chúng tôi vui vẻ
phối ngẫu kép.

Có những con quạ ở trên mái
ở cả hai nơi.
Có lẽ chúng đều cùng một lũ quạ.

Tôi không biết.
Nếu Roni Horn ở đây
thì cô sẽ nói quạ

cũng giống như là nước,
chúng miên man hoang dại.
Chúng là một dấu hiệu của Iceland.

Tôi nên học thêm về các dấu hiệu.
Tôi đến Stykkishólmur
để sống trong một thư viện.

Thư viện không chứa sách
mà chứa những dòng sông băng.
Những dòng sông băng thẳng đứng.

Im lặng.
Theo trật tự hoàn hảo như là sách.
Nhưng chúng đã tan.

Nó sẽ như thế nào
khi sống trong một thư viện
của những cuốn sách tan.

Với những câu văn tràn trên sàn
và toàn bộ dấu câu
lắng xuống đáy như cặn.

Nó sẽ thật hoang mang.
Không thể tha thứ được.
Một cuộc phiêu lưu vĩ đại.

Roni Horn từng bảo tôi
rằng một nhà thám hiểm Nam Cực nói
Có một cuộc phiêu lưu

là một dấu hiệu của sự bất lực.

Khi tôi cảm thấy mình
vào lúc bất lực nhất

như tôi thấy ở Stykkishólmur
nhiều buổi sáng tối tăm
đi bộ vào trong gió,

tôi cố gắng gợi lên trong tâm trí
một cái gì đó đối lập với sự bất lực.
Ví dụ như quả trứng.

Hình thức hoàn hảo này.
Nội dung hoàn hảo.
Đồ ăn hoàn hảo.

Trong mơ
một nhà thám hiểm gần đây hơn (Anna Freud) nói
bạn có thể luộc trứng hoàn hảo như bạn muốn

nhưng không thể ăn nó.

Đôi khi vào ban đêm
khi tôi không ngủ được

vì gió
tôi đi và đứng
trong thư viện của những dòng sông băng.

Tôi đứng trong một thế giới khác.
Không phải là quá khứ không phải là tương lai.
Không phải là thiên đường không phải là thực tại không phải

một giấc mơ.
Một thứ quyền năng khác,
hoang dại và miên man.

Ai biết vì sao nó tồn tại.
Tôi đứng giữa những dòng sông băng.
Nghe cơn gió bên ngoài

đổ về phía tôi từ những cạnh ngoài của đêm và không gian.
Tôi không có giả thuyết nào
sao chúng tôi ở đây

hay ai trong chúng tôi là dấu hiệu của điều gì.
Nhưng một căn phòng của những dòng sông băng tan
lắc lư trong cơn gió đêm của Stykkishólmur

là một nơi thích hợp để nghiền ngẫm nó.
Mỗi sông băng đều được thắp sáng từ bên dưới
như là ký ức.

Proust nói ký ức có hai loại.
Có cơn vắt óc hằng ngày để nhớ
chúng ta để kính đọc ở đâu

và có một cơn khao khát sâu đậm hơn
đi lên từ dưới đáy
của trái tim

một cách vô tình.
Vào những lúc đột ngột.
Vì những lẽ bất ngờ.

Đây là một đoạn trích trong một bức thư mà Proust viết
năm 1913:
Chúng ta nghĩ chúng ta không còn yêu những người đã khuất

nhưng đó là vì chúng ta không nhớ đến họ:
đột nhiên
chúng ta gặp một chiếc găng tay cũ

và trào nước mắt.

Trước khi rời thư viện
tôi tắt hết đèn.

Những dòng sông băng tối lại.
Rồi tôi về căn nhà của Greta.
Đánh thức chồng tôi dậy.

Nhờ anh luộc cho chúng tôi chút trứng.

Ảnh đại diện

Tag (Anne Carson): Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

ĐÂY

Tháng Tư vô độ, cây trong chốn,
trong cái chốn trầy trật của chúng,
thế đứng của chúng.
Lối đứng.
Những khu vực cành đỏ của chúng,
những khu vực chồi xanh (sốc),
dòng sông, cái đó.
Tôi làm giật mình một con ngỗng và nó rít lên.
Tôi đi và đi với đôi bàn tay lạnh.
Về đến nhà nó lấp đầy với sự mong mỏi,
chẳng có gì để mang mong mỏi đi.
Tôi nhìn lại đời mình.
Tôi cố tìm những sự tương đồng.
Nhưng không có.
Tôi đã mong người ta trước đây, tôi đã yêu người ta trước đây.
Nó không giống như đây.
Nó không phải là đây.

Cho tôi một thế giới, anh đã lấy cái thế giới tôi là.


CỦA ANH

(“không thể thay đổi được”)
Thật ra là không phải. Bước nhảy nguỵ tạo vào—
dòng sông thoáng thấy qua trần
[chờ đợi]
[một danh từ] cho cái cách suy nghĩ đổ vỡ quanh anh không ở đây
quần áo anh không ướt trong tấm gương sâu này—
cái mà Hölderlin gọi là die Tageszeichen, những dấu hiệu
                             được ghi vào linh hồn bởi vị thần của mỗi ngày
câu trả lời để lại sẹo của anh, tôi vẫn không biết—
bao năm từ bây giờ, những
ký hiệu này trong sổ địa chỉ, bàn tay này cuồng điên.

Trang trong tổng số 9 trang (90 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối