Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Dưới đây là các bài dịch của Nguyên Tâm. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 1 trang (10 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Du Đông Sơn (Châu Hải Đường): Bản dịch của Nguyễn Tâm Hàn

Mấy lần đã tới Thanh Hoa,
Đông Sơn giờ mới ghé qua lần này.
Đường vắng hoe, cỏ mọc đầy,
Động tiên san sát cạnh ngay nhà người.
Sườn non nóc miếu rêu phơi,
Bên lầu nâng chén rượu mời ngả nghiêng.
Tự bao giờ trống điểm lên,
Mà dư âm động còn trên sóng hồ.


Ảnh đại diện

Bắc chinh - Bắc quy chí Phụng Tường, mặc chế phóng vãng Phu Châu tác (Đỗ Phủ): Bản dịch của Nguyễn Tâm Hàn

Mùa thu năm thứ hai
Vua ngự trên ngai báu
Được lên miền bắc xa
Nơi vợ con nương náu
Giữa gian khổ can qua
Khó khăn khăp mọi nhà
Riêng mình ân mưa móc
Vua cho về thăm nhà
Lạy tạ trước bệ rồng
Bước lui chẳng đành lòng
Thân bề tôi chưa vẹn
Đâu dám lời tôi trung
Vua là đấng con trời
Trị muôn dân tuyệt vời
Nhưng bọn Đông Hồ vẫn
Quấy nhiễu mãi không thôi
Khắp dân tình căm hận
Lời oán than ngất trời
Đành gạt lệ bước đi
Lòng vương vấn trăm bề
Đất trời nhiều ngang trái
Bao giờ hết nhiêu khê
Bước lầm lũi trên đồng
Bếp nhà ai khói vương
Người bị thương rên rỉ
Máu loang lổ trên đường
Quay đầu nhìn Phụng Tường
Bóng cờ giữa chiều buông
Núi trập trùng trước mặt
Nước vũng ngựa lỏng cương
Tới vùng trũng huyện Phần
Sông Kinh chẩy ầm ầm
Cọp lờn vờn trước mặt
Rống vang dội sơn lâm
Cúc rũ giữa mùa thu
Vết xe xưa rêu mờ
Lòng lâng lâng niềm hứng
Trời cao vút xanh lơ
Niềm vui giữa tịch liêu
Cây rừng trái thật nhiều
Dây leo xen quả dẻ
Đen lẫn đỏ son điều
Thấm mưa nắng thuận hoà
Ngọt đắng đều đơm hoa
Tâm vời nguồn đào cũ
Nghĩ mình thật vụng về
Gập ghềnh hướng châu Phu
Hang ẩn hiện lờ mờ
Tới ven bờ sông vắng
Vừng dương hãy còn kia
Cú trong ruộng dâu vàng
Chuột đùa giỡn trước hang
Đêm đi qua chiến địa
Trăng chiếu xương ngổn ngang
Trăm vạn quân Ải Đồng
Bỗng một thoáng bại vong
Khiến dân Tần một nửa
Thành ma thật não nùng
Thân ta bụi Hồ bám
Trở về tóc pha sương
Nơi mái tranh bước về
Nhìn vợ con thảm thê
Áo quần vá trăm mảnh
Cảnh bèo nheo não nề
Âm buồn tiếng suối reo
Thằng con xưa cưng chiều
Mặt xanh xao nhợt nhạt
Quay mặt chả thèm theo
Chân không đầy cáu ghét
Bên chiếc giường vẹo xiêu
Hai đứa con gái đứng
Áo cũn cỡn tiêu điều
Vợ, áo cũ biển thêu
Làn sóng đã gẫy nhiều
Nét dọc ngang xô lệch
Thiên ngô, phượng bèo nheo
Trong áo manh mỏng ngắn
Nhìn đau xót trăm chiều
Dù trong người chẳng yên
Bị tả mấy hôm liền
Cũng mở bao tặng lụa
Bớt nỗi lạnh triền miên
Son phấn bọc trong khăn
Mở ra bầy đầy chăn
Nét sầu nàng tan biến
Con chải đầu lăng xăng
Bắt chước mẹ điểm trang
Phấn son bôi lổ loang
Thỉnh thoảng chấm thoa sáp
Chân mày vẽ bệt ngang
Được gần gũi con thơ
Quên đói khát xác xơ
Trẻ kéo râu đùa giỡn
Đâu lỡ mắng con khờ
Sầu chinh chiến ngổn ngang
Con dại phá chẳng màng
Cùng vui ngày hội ngộ
Việc sinh kế bỏ sang
Thương thiên tử lao đao
Luyện quân bỏ được nào
Nhìn trời mây tang hải
Khí yêu quái dâng cao
Gió lạnh tây bắc qua
Hồi Ngột giúp quân nhà
Cùng quân mình liền cánh
Binh họ giỏi xông pha
Chỉ khoảng năm ngàn quân
Đoàn ngựa gấp hai lần
Binh ít nhưng tinh nhuệ
Họ kiên quyết bền gan
Quân tiến vụt như chim
Phá giặc nhanh hơn tên
Vua hết lòng tin cậy
Mặc dư luận đang lên
Trở tay đã thu Y
Tây Kinh đâu nề gì
Quan quân thêm hừng chí
Muốn cùng tiến một khi
Trận mở lối Thanh Từ
Hằng Kiệt chiếm êm ru
Trời móc sương trong sáng
Chính khí lấn bóng mờ
Hoạ hết lúc tàn Hồ
Thế vững lại như xưa
Khí Hồ sao tồn được
Trước kỷ cương nhà vua
Lúc thời buổi rối ren
Việc khác xưa nào quen
Bọn gian thần đền tội
Lũ đồng loã cũng yên
Chuyện Hạ Ân nguy nan
Bọn Bao Đát tự tan
Chu Hán lên dựng nghiệp
Bậc tài có Tuyên Quang
Tướng Trần đấng anh hùng
Ngọn giáo bừng khí trung
Thiên hạ được bao kẻ
Giang sơn còn nhờ ông
Điện Đại Đồng hoang liêu
Cửa Bạch Thủ quạnh hiu
Khắp hoàng thành ngóng đợi
Vua về tiếng quân reo
Khu vườn lăng thiêng liêng
Vẫn quét dọn thường xuyên
Nghiệp Thái Tông hùng vĩ
Công lớn rộng vô biên


Ảnh đại diện

Mái lều lợp lụa (Robert Frost): Bản dịch của Nguyên Tâm

Nàng óng ả như mái lều lợp lụa
Giữa trưa hè đồng nắng gió mơn man
Sương đọng đã khô, dây buộc không còn chặt nữa
Lều đu đưa thoải mái nhẹ nhàng
Còn trụ gỗ tuyết tùng chính giữa
Là tháp lều vòi vọi hướng trời cao
Biểu hiện tâm hồn vững vàng kiên nghị
Dường như không ràng buộc mối dây nào
Nhưng vô kiềm toả thì cũng là buông thả
Với bao tơ tình và ý nghĩ vấn vương
Về mọi chuyện khắp mọi miền trái đất
Và ngọn gió hè chỉ cần khẽ giật
Trong phút giây đỏng đảnh thất thường
Cảnh câu thúc của mình lều nhận ra luôn


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Cồn cát (Robert Frost): Bản dịch của Nguyên Tâm

Biển cuộn sóng xanh rờn ướt át
Nhưng ven bờ nơi sóng vừa tan
Lại xuất hiện nhiều con sóng khác
Còn lớn hơn, màu nâu, khô ran

Đó là vùng đất biển bồi lên
Để mở rộng thêm làng chài lưới
Và chôn sâu trong lòng cát sỏi
Những người chưa chết đuối ngoài khơi

Dù tường tận mọi địa hình mũi vịnh
Biển nào đâu hiểu được con người
Biển cứ ngỡ khi thay hình dạng
Con người sẽ bị mất hồn thôi

Người bỏ lại con thuyền trên biển
Mặc cho chìm, bỏ nốt cả lều tranh
Người càng được thảnh thơi suy nghĩ
Nhờ vứt thêm một cái vỏ của mình


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Muôn hoa (Henry Wadsworth Longfellow): Bản dịch của Nguyên Tâm

Nói lời chí lý theo từ ngữ cổ
Một người ở sông Rhin san sát lâu đài
Dùng tiếng ngôi sao, lấp lánh thế gian này
Để chỉ muôn hoa xanh, vàng, đỏ

Hoa đúng là sao, để xem số mệnh
Như cách nhìn người tiên phán hoặc chiêm tinh
Nhưng hoa đâu bí huyền và ghê gớm
Như vạn sao trời hoa vẫn ngắm nhìn

Bao chân lý diệu kỳ, bội phần kỳ diệu
Được Chúa ghi cho tinh tú xa xăm
Nhưng hoa nhỏ xinh sáng ngời dưới đất
Đâu kém phần được Chúa ban ân

Điều thiên khải chói ngời và rạng rỡ
Ghi khắp nơi trên cõi đất mênh mang
Với người, sáng thế do tạo hoá
Đặt ở muôn hoa, tinh tú trần gian

Nhà thơ vốn trung thành và sáng suốt
Thấy rõ trong tinh tú và hoa
Phần giống nhau là sinh linh phổ quát
Rung động hoài khối óc, con tim

Dưới ánh dương, hoa xiết bao rực rỡ
Khóm hoa vui khoe sắc giữa ban mai
Lá rung rinh lót tơ mềm ánh bạc
Nụ tươi xinh chỉ nở để tàn phai

Hy vọng chói ngời, bọc nhung sặc sỡ
Đua nhau khoe sắc ánh vàng kim
Mong muốn nhiều, lối ra không rõ
Ý nguyện ngọt ngào nở rộ về đêm!

Điều quá hiển nhiên ở hoa và thi sĩ
Cả hai cùng động lực tạo nên
Động lực nhà thơ, không vẩn vơ mộng mị
Tìm thấy ở hoa và ở bản thân

Khắp chốn quanh ta muôn hoa rực rỡ
Có đoá tựa sao, báo hiệu xuân sang
Có đoá như mắt xanh bao lệ ngấn
Như nàng Rút kia giữa khóm ngô vàng

Đâu chỉ trong biểu tượng đẹp mùa xuân
Hoặc cánh đồng xanh hè vui lễ hội
Mà cả sắc phục thu già trung hậu
Giữa tấm khiên thu đúc đồng hun

Đâu chỉ cánh đồng lối đi xanh ngát
Đỉnh non cao thẳm hoặc cạnh bờ thanh
Của hồ hiu quạnh giữa thung rậm rạp
Nô lệ thiên nhiên cúi uống nước lành

Đâu chỉ ở nhà vòm chói lọi vinh quang
Hoặc nấm mồ hoang của loài muông thú
Mà ở cả đền đài cao to, cổ kính
Trên mộ anh hùng chạm đá hoa cương

Ở lều tranh người nông dân chất phác
Ở nhà tổ tường mái điêu tàn
Nói về Quá khứ cho Hiện tại
Kể chuyện muôn hoa thuở xa xăm

Vậy muôn nơi chốn, mọi thời gian
Hoa đẹp tươi luôn rủ cánh thần
Dạy ta những lẽ đầy thuyết phục
Hoa với người đúng họ hàng thân

Với lòng trìu mến đượm thơ ngây
Ta ngắm nụ hoa nở mỗi ngày
Như hình tượng phục sinh bất hủ
Dải đất ta hạnh phúc dâng đầy.


Ảnh đại diện

Ngợi ca nữ chúa đêm (Henry Wadsworth Longfellow): Bản dịch của Nguyên Tâm

Ta nghe xiêm áo của Chúa đêm
Lướt nền đá gấm ẩn sau rèm
Nàng bận da chồn viền ánh sáng
Chiếu từ cao thẳm chốn thần tiên!

Ta cảm nhận Chúa đêm hiện diện
Bởi oai phong, huyền ảo, diễm kiều
Tĩnh lặng là nơi Nàng ngự trị
Là nơi ẩn hiện Người ta yêu

Ta lắng âm thanh của buồn vui
Trong tiếng chuông ngân gióng liên hồi
Đầy ắp tân phòng lầu Nữ chúa
Như vần thơ cổ tụng ngàn đời

Hồn ta luôn uống niềm thanh thản
Từ những bình khí mát nửa đêm
Mạch nước thanh bình ngàn năm chảy
Cũng từ nguồn khí của tự nhiên

Đêm thiêng! Ta nhớ mãi lời răn
Như bao người trước đã nhập tâm
Tay đặt lên môi thần Sầu não
Sẽ làm môi im bặt tiếng than

Thanh bình! Thanh bình! Lòng tha thiết
Ta ước Nàng hạ cánh trần gian
Nàng vạn cầu mong, Nàng đẹp nhất
Nàng muôn yêu dấu hỡi Chúa đêm!


Ảnh đại diện

Bác phó rèn làng quê (Henry Wadsworth Longfellow): Bản dịch của Nguyên Tâm

Dưới cây dẻ lớn lá xum xuê
Là xưởng rèn con chốn làng quê
Dáng bác phó rèn nom lực lưỡng
Tay gân guốc đập sớm rồi khuya
Cơ bắp đôi tay cuồn cuộn nổi
Khoẻ như giàn sắt gánh thân xe

Tóc quăn đen nhánh xoã đôi vai
Mặt xạm da nâu bởi tháng ngày
Mồ hôi đẫm trán bao lương thiện
Sống bằng công việc nhận vào tay
Nhìn thẳng mọi người không hổ thẹn
Bởi không công nợ bất kỳ ai

Ngày tới ngày qua, sáng lại chiều
Bễ lò đỏ lửa nóng như thiêu
Tay quai búa tạ vang thôn xóm
Khi hạ khi nâng, nhịp đập đều
Như gã coi chuông, khi nắng xế
Chuông làng, thanh thả kéo ngân reo

Lũ trẻ trên đường đi học về
Nhìn qua cửa lớn mở bên hè
Mê xem lò lửa đang bừng chói
Bễ thở phì phò, đứng lắng nghe
Chộp lấy đốm tàn theo khói tản
Y như trên bãi đập rơm mì

Chủ nhật bác đi lễ nhà thờ
Ngồi xen cùng chỗ lũ con thơ
Chăm chú nghe cha trên bục giảng
Nghe con gái lớn giọng vang to
Cùng các bạn làng trong hợp xướng
Lòng rộn niềm vui chẳng bến bờ

Tiếng con như tiếng vợ yêu thương
Giờ đang ca hát tận thiên đường
Lại nhớ bạn đời mau bạc phận
Lúc này yên nghỉ dưới hàng dương
Chợt lấy bàn tay đầy chai sạn
Lau đi dòng lệ bỗng trào tuôn

Lao động, mừng vui lẫn ưu phiền
Đường đời lặng lẽ bác đi lên
Mỗi sáng bắt đầu làm việc mới
Mỗi chiều xong việc mãi gần đêm
Công việc định ra làm được trọn
Để rồi giấc ngủ được bình yên

Ơi bạn vàng, xin cảm ơn người
Cảm ơn bài học dạy cho đời!
Lò đời cháy bỏng y như thế
Của cải ta đều phải luyện tôi
Ý nghĩ, việc làm đều cũng vậy
Định hình trên một chiếc đe đời.


Ảnh đại diện

Hoạ Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn “Giáp Dần phụng mệnh nhập Phú Xuân kinh, đăng trình lưu biệt Bắc Thành chư hữu” chi tác (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Tâm Hàn

Tiến về Nam qua đèo Ngang
Hành trình đầy đủ gươm đàn mang theo
Thuốc thần nào đã tới đâu
Mảnh da beo vẫn mối đầu luỵ thân
Ánh mầu nước, chén rượu xanh
Dõi theo vó ngựa một vành trăng quê
Gặp gia huynh hỏi xin thưa
Đường cùng tôi gặp, tóc giờ điểm sương


Ảnh đại diện

Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Nguyễn Tâm Hàn @www.hoasontrang.us

Tiễn người đêm bến Tầm Dương
Lau, phong xào xạc, thu vương dịu hiền
Chủ xuống ngựa, khách lên thuyền
Không đàn chẳng sáo chén buồn vân vê
Say nào vui lúc phân ly
Trăng chìm đáy nước, sông chia đôi tình
Chợt nghe tiếng nhạc lênh đênh
Khách ngơ, chủ ngẩn chẳng đành bước đi
Rằng sao âm quá não nề ?
Đàn ngưng ngỡ đáp, nào dè kín môi
Ghé thuyền gạn hỏi đôi lời
Chong đèn, rượu tiếp, tiệc vui đậm đà
Cạn lời nàng mới bước ra
Nửa phần má phấn tì bà khuất che
Chỉnh đàn tay ngọc vân vê
Dạo qua vài tiếng đã nghe tài tình
Đàn rung nghèn nghẹn, bồng bềnh
Xót xa như tả nỗi mình đắng cay
Tay đàn, cúi nhẹ, chau mày
Âm nghe kể lể dãi bày tâm tư
Bắt khoan, nắn nhẹ, dạo, vê
Hết Nghê Thường lại tiếp về Lục Yêu
Dây to rào rạt mưa gào
Dây con ngỡ tiếng lời nào oán than
Tiếng trầm tiếng bổng tràn lan
Tựa trên mâm ngọc rớt ngàn hạt châu
Lời oanh trơn giọng nhuốm sầu
Ngập ngừng tiếng suối, thác sâu nước gầm
Suối đông lạnh, đàn lặng câm
Nét sầu phảng phất, vẻ trầm bi ai
Bâng khuâng lòng khách ngậm ngùi
Bỗng âm oà vỡ tả tơi ngọc bình
Vó câu dồn dập đao binh
Giữa đàn tay ngọc thình lình phất lên
Âm như xé lụa giữa đêm
Đông, tây tĩnh lặng... khắp thuyền ngẩn ngơ
Trên sông trăng bạc dật dờ
Nhẹ cài que gẩy vào khe dây đàn
Đứng lên khép nép dịu dàng
Nguồn cơn nàng kể rõ ràng đầu đuôi:
"Chốn thành đô thiếp ra đời
"Chính quê xưa vốn là người Hà-Mô
"Thạo tỳ bà thuở mười ba
"Nhất danh đào hát chẳng là thua ai
"Ngón đàn át cả Thiện tài
"Thu còn ghen nét trang đài thắm xinh
"Ngũ Lăng tài tử nặng tình
"Lụa đào trao tặng quanh mình biết bao
"Hoa vàng, vành lược cài đầu
"Gẫy theo nhịp gõ, rượu mầu vương y
"Vui triền miên tuổi xuân thì
"Thu trong, xuân mát qua đi chẳng cần
"Bỗng người em phải tòng quân
"Người dì vắn số, muôn phần xót xa
"Xuân tàn, sớm lại, chiều qua
"Ngựa xe thưa thớt, cửa nhà vắng tanh
"Về chiều kết nghĩa tơ mành
"Chồng người buôn bán, nhẹ tình biệt ly
"Phù Lương tháng trước chàng đi
"Thuyền không lẻ bóng sầu bi não nùng
"Nhìn trăng lạnh lẽo trên sông
"Tơ vương lại thuở má hồng xa xưa
"Xót thương thân phận đong đưa
"Nhạt nhòa má phấn hoen mờ lệ sa"
Đã buồn theo tiếng tỳ bà
Càng thêm se sắt nghe qua chuyện nàng
Cùng thân lưu lạc trên đường
Chả cần quen biết cũng vương nặng tình
"Tròn năm ta đã rời kinh
"Tủi buồn nằm bệnh nơi thành Tầm Dương
"Chốn này hẻo lánh nhiễu nhương
"Quanh năm đàn nhạc chả thường được nghe
"Cạnh sông Bồn ẩm, trũng kia
"Trúc gầy, lau úm còn gì nữa đâu
"Sớm khuya nghe mãi thêm rầu
"Quyên kêu, vượn hú nỗi sầu khó vơi
"Sông xuân, hoa sớm, trăng ngời
"Một thân quạnh quẽ đầy vơi chén nồng
"Giá đừng hát núi, sáo đồng
"Líu lo thì hẳn bớt không bực mình
"Đêm nay nghe khúc nhạc tình
"Tưởng như từ chốn thiên đình vọng ra
"Xin nàng hãy niệm tình ta
"Đàn thêm khúc nữa gọi là tri âm
"Bài Tỳ Bà tạ tình thâm"
Cảm lời nàng đứng lặng câm tần ngần
Trầm ngâm tay vuốt dây đàn
Âm nghe ray rứt chứa chan giọt sầu
Khách nghe mắt lệ rầu rầu
Áo xanh Tư Mã Giang Châu ướt dầm.


Ảnh đại diện

Bạch tuyết ca tống Vũ phán quan quy kinh (Sầm Tham): Bản dịch của Nguyễn Tâm Hàn

Cỏ tàn tạ giữa heo may
Xứ Hồ tháng tám tuyết bay ngập trời
Gió Xuân chỉ một đêm thôi
Ngàn hoa lê nở khắp nơi lan tràn
Hoa bay bám ướt rèm màn
Áo cừu, chăn gấm chẳng làm ấm thân
Giương cung thiếu sức, soãi gân
Giáp y lạnh toát vẫn quanh thân mình
Ven bờ băng đá mông mênh
Mây mù ảm đạm xây thành trời xa
Tiệc chia tay đãi khách về
Tì bà, Khương sáo, tỉ tê đàn Hồ
Tuyết rơi chiều xuống lờ mờ
Cờ hồng đóng đá cứng đơ lạnh lùng
Buổi Luân Đài tiễn bước ông
Thiên Sơn băng giá, khắp vùng tuyết sa
Đường khúc khuỷu nhận chẳng ra
Mờ mờ dấu ngựa bước qua lu dân.


Trang trong tổng số 1 trang (10 bài trả lời)
[1]