Dưới đây là các bài dịch của Ngô Tự Lập. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 2 trang (20 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Cha ông (Erik Axel Karlfeldt): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Không có tên của họ trong những cuốn sử biên niên
Thật khiêm nhường và thanh bình, họ sống
Nhưng lý luận dài lâu của họ
Thấp thoáng từ những thời lịch sử xa xưa

Vâng, chính nơi đây, xứ sở già nua của sắt
Họ khai hoang làm ruộng bên sông
Và ở khu mỏ kế bên, họ khai thác khoáng sản
Thân phận nô lệ không làm họ bận tâm, họ cũng hoàn toàn không kiểu cách
Như những hoàng tử trong chính nhà mình
Họ say khướt để ngợi ca đầu óc
Vào mùa xuân cuộc đời, họ ôm hôn các cô gái trẻ
Để biến một cô trong số đó thành người vợ thuỷ chung
Họ sợ Trời, họ ca ngợi Đức Vua
Và rồi, say khướt vì tháng năm, họ chết trong thanh thản

Vào những phút giây khổ đau và cám dỗ
Tôi nghĩ về cha ông, để thêm sức mạnh cho mình
Họ biết cách giữ gìn chút di sản nghèo nàn
Cũng như vậy, trước số phận tôi dám cười ngạo nghễ
Và khi có quá nhiều khoái lạc mời chào
Tôi nhớ về miếng bánh mì đạm bạc của cha ông
Liệu tôi có quyền được đòi hỏi nhiều hơn?
Như dòng suối cuộn trôi, tôi thấy mình trẻ lại
Khi gạt được ham muốn và đã mệt nhoài
Tôi biết sợ động năng của xác thịt
Hơn cả sự quyến rũ trần gian, hơn cả lời ngọt ngào của quỷ

Tôi gặp cha ông trong khoảnh khắc của giấc mơ
Và linh hồn tôi đau buồn, và trái tim tôi chờ đợi
Vậy đó, tôi như một cái cây
Bị bật gốc khỏi nơi sinh, nơi tôi đã nảy mầm
Dù muốn, dù không, tôi đã xa rời họ
Mùa hè, mùa thu, tôi thu lượm âm thanh
Trao cho họ tiếng hát nhẹ nhàng
Đây là việc đáng để nhọc công
Nhưng, nếu như trong thơ tôi đôi khi bạn nghe tiếng động

Như tiếng bão giông, như tiếng thác đổ
Một ý nghĩ quật cường và mạnh mẽ
Nếu trong thơ tôi chim chiền chiện hát ca
Và có ánh mùa xuân trên đồng cỏ vắng
Nếu như trong đó rừng bao la hít thở
Thì chính là vì trong lặng im, vượt qua bao thế hệ
Cha ông ta đã hát, bằng âm thanh của rìu
Sau những đường cày, sau những bánh xe


Bài thơ trên nằm trong tập "Những bài ca về thiên nhiên hoang dã và về tình yêu" (Vildmarks och kärleksvisor) xuất bản năm 1895

Nguồn: Các nhà văn Thuỵ Điển giải Nobel (Nhiều người dịch), NXB Lao động & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Một trái tim (Erik Axel Karlfeldt): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Trái tim tôi, một chiếc bễ rắn rỏi
Bễ da thuộc, vỏ gỗ sồi
Ba chục năm, những tuần lễ và những ngày lễ hội
Nó miệt mài thổi hút không thôi
Nó hút vào mọi ham muốn trên đời
Nó thổi ra mọi đau khổ thế gian
Cố lên, chiếc bè tuyệt diệu của ta, bởi đời là như vậy!

Trái tim tôi, một ngôi nhà hiếu khách
Với bốn gian phòng rộng thênh thang
Căn phòng đều tràn ngập âm nhạc và tiếng động
Trừ một phòng đóng chặt, im lìm
Hãy vào đây khiêu vũ, hỡi các cô gái nhỏ
Nhưng nhẹ chân, các bạn mến yêu ơi
Trong phòng tôi, lặng yên, người yêu tôi đang ngủ

Trái tim tôi, một chiếc thùng đai sắt
Đầy rượu vang đã ủ lâu năm
Hãy là một người bạn ham vui, hãy đến và hãy uống
Cho đến khi nào còn có ánh mặt trời
Xúc động, ký ức thuỷ chung, ngươi sẽ làm tổng kết
Về những bữa tiệc tùng ta thết đãi ngươi
Bị giọt rượu cuối cùng vấy đỏ


Bài thơ trên nằm trong tập "Vườn hoan lạc của Fridolin và bức hoạ của Dalmålningar" (Fridolins lustgård och Dalmålningar på rim) xuất bản năm 1901

Nguồn: Các nhà văn Thuỵ Điển giải Nobel (Nhiều người dịch), NXB Lao động & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Niềm vui chàng thợ săn (Erik Axel Karlfeldt): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Đó là lúc vải lanh khô trên chiếc ba-ri-e
Hu-bơ-lông đang chín chờ thu hoạch
Hung đỏ lông cáo và sẫm nâu lông chồn
Đồng cỏ dưới kia, bên bìa rừng, vẫn còn lấp lánh

Chiều đang đến, và mặt trời đang lặn
Chầm chậm, từ đồng cỏ xa, bầy gia súc trở về
Bóng rặng thông dọc chiếc ba-ri-e
Đã chớm trùm lên trên mái nhà sơn cước

Bên giếng nước, trên đất vàng, em đứng
Nắng quái chiều hôm run rẩy tóc nàng
Đẹp rực rỡ như một đoá hồng thu
Người phụ nữ vào độ mười bảy tuổi

Nàng đã múc đầy xô nhưng vẫn vịn vào thành giếng
Mê mải với những dòng suy nghĩ riêng mình
Chiều đang đến, đã không còn nghe thấy
Tiếng súng và tiếng chó sủa râm ran

Nàng đã nghe những âm thanh ấy suốt ngày
Khi ngồi nhặt cỏ trong kho thóc
Nàng theo dõi cuộc săn trong bóng tối sương mù
Giữa những con đường mòn trong rừng lấp lánh

Nàng không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua
Trước khi chuông đồng hồ điểm giờ cầu nguyện
Nàng nghĩ về chàng, người thợ săn của thành phố
Người đàn ông vui nhộn và yêu thích hát ca

Gió mang đi mùi hương
Của lá khô và cành cây mục
Người bước đi trên đường, gấp gáp
Người đàn ông đến gần chiếc ba-ri-e

Từ chiếc túi săn may bằng da lửng
Những túm lông sặc sỡ thò ra
Con chó săn cuống quýt chạy quanh và sủa
Rồi hít hít, đánh hơi dọc chân tường

Đôi má nóng bừng, đôi mắt nhìn xuống
Nàng nóng lòng đợi khách đến thăm
Sự run rẩy hồi lâu dâng lên tận thái dương
Tim đập mạnh dưới đôi yếm nàng thắm đỏ

Dưới gốc thông bên chiếc giếng cô đơn
Nàng trao cho chàng thợ săn chiếc cúp
Đó là đôi môi nàng với nụ cười tươi tắn
Chàng thợ săn vui tính kia là nô bộc của em


Bài thơ trên nằm trong tập "Những bài ca về thiên nhiên hoang dã và về tình yêu" (Vildmarks och kärleksvisor) xuất bản năm 1895

Nguồn: Các nhà văn Thuỵ Điển giải Nobel (Nhiều người dịch), NXB Lao động & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Nàng nghĩ đó là một ngôi sao (Werner Aspenström): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Người phụ nữ với bó huệ chuông đến chậm
Các chấn song đã đóng lúc hoàng hôn
Không ai biết rằng nàng nghĩ đã tôn vinh
Một trong những vị thần của hương vi ngon nhất
Hay vị thần làng trong miệng vị đất?
Họ nằm rải rác ở đây
những người rải ngôn từ
Mọi ánh sáng đều được vay mượn
Các hành tinh trên quỹ đạo vĩnh cửu nhật tâm
Chiếc gương đương nhiệm là Jupiter
Chỉ chốc lát, ta sẽ thấy nó bên trái tháp chuông nhà thờ
Nàng nghĩ đó là một ngôi sao
Con dơi và người phụ nữ với bó huệ chuông
đều khóc khi gặp nhau dưới hàng cây đoạn
Dù là họ hàng
Nàng không muốn tin điều đó


Nguồn: Thơ Thuỵ Điển (Nhiều người dịch), NXB Hội nhà văn & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Trên mặt những người đang ngủ có một sự thật hiển nhiên (Werner Aspenström): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Trên mặt những người đang ngủ có một sự thật hiển nhiên
vừa quyến rũ ta vừa làm ta sợ hãi
Một nụ cười không thể tiếp cận
phải chăng là nụ cười ảo giác trẻ con
mà người ta tin được đôi cánh mang đi
hoặc hoá đá?
Chúng ta nhẹ đẩy cửa
Chúng ta cúi nhìn những người đang ngủ
Giờ họ đang rong chơi trên những phố nào?
Ở thời đại nào?
Bạn có bị đóng đinh trên thập giá trong giấc mơ của họ?
Bạn có tái sinh trong Hoàng Đới ấy?
Nguyên vẹn
tấm gương biển không thể nào xuyên thấu
Khảo sát
không hẳn là đắm chìm
Ta đứng dậy. Ta ra đi
để sẽ còn trở lại
Trên mặt những người đang ngủ có một sự thật hiển nhiên
Đuổi theo ta mãi mãi

Chính vì em mà tôi đến
Em phải tin tôi
khi tôi nói đã trông thấy cơn lũ lụt!
Quả tình là tôi thiếu bằng chứng:
bằng chứng rồi sẽ có
bằng chứng cận kề rồi
Tôi đã nhìn thấy cơn lũ lụt!
Một đêm hè
ở một xứ xa xôi, lạ lẫm
nhưng cũng thực như thành phố của em
Khi đó, nước nhấn chìm
những cánh đồng vừa gặt
(với những vựa thóc cũ ọp ẹp
những bồn sấy xanh lục
nặng nề)
Nước quất vào những bức tường đá
Nước dâng đầy thung lũng
Nước ào qua cánh rừng
trên những cáp treo, bãi thải
và những trục quặng màu đỏ của khu mỏ kia

Sườn núi rung rinh
Sườn núi sụp đổ!
Tôi đến để cảnh báo em
Rằng những bức tượng sẽ không can thiệp
Chuông sẽ không kêu
Sẽ mù hơn cả con chó của người mù
Và bây giờ tôi ở trong thành phố ngủ mơ này
với hàng hoá không một ai chờ đợi
những hoa quả không một ai thèm muốn
một người nông dân ngớ ngẩn
lầm lẫn ngày chợ phiên
Thưa các bạn thính giả thân yêu
thưa chuyến bay nhỏ nhoi những chú chim câu sặc sỡ!
Tôi ném cho chúng nắm chữ
Đã lãng phí đến nửa thời gian
Rồi chẳng mấy chốc chính tôi cũng lờ đờ như họ

Hẳn phải có một trí tuệ mà chúng ta không có
Chúng ta có nghe thấy tiếng nước không?
Chúng ta đã nhìn thấy lũ tràn qua ngọn núi?
Chúng tôi nhẹ nhàng đẩy cửa
Ai trong chúng ta đang trong cơn hiểm nguy?
Ai sẽ đánh thức người kia?
Ai sẽ xuất hiện trong giấc mơ kẻ khác?
Trên mặt những người đang ngủ có một sự thật hiển nhiên
bị tra vấn bởi những người nhìn hoảng sợ


Nguồn: Thơ Thuỵ Điển (Nhiều người dịch), NXB Hội nhà văn & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Chứng kiến tận mắt (Werner Aspenström): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Monet ra khỏi nhà và đi vẽ
"Một niềm vui cũng là một đau khổ lớn lao"

Monet muốn vẽ những gì ông nhìn thấy
Có thể là nhìn thấy sông Sein

Nhưng tất cả những gì cái nhìn thấy đã là quá khứ rồi
Không ai có thể tắm hai lần trong cùng một dòng ánh sáng

Monet tấn công nét lấp lánh, vẻ mịt mù
cổ họng của bồ câu, sự phù du của cái đẹp

Ông không thể vẽ một con dao sắc
một đường nâu, một chân trời gang xỉn màu

Những vết tuyết khiến ông vui thích
Tan theo ánh mắt nhìn

Lũ bò khoang đen trắng trên đồng được quan sát chi li:
Đây là những cầu vồng trên bãi chăn thả

Phong cảnh không ngừng thay đổi
"Mình đã dùng và lãng phí quá nhiều sơn"

Một cánh đồng lúa mì có thể màu xanh
Nuôi trồng ánh sáng bao giờ cũng vì mùa thu hoạch

Rặng mỹ nhân. Monet nhờ lũ trẻ mang đến vài khung vải mới
Như các chiến binh chữa cháy chúng chạy đến ào ào

Ngày Quốc khánh, nhìn từ ban công
Một dòng thác cờ, những đám người tản mát

Ở Le Havre mặt trời vụt đỏ
Monet vẽ ba chiếc tàu không thể thoáng qua hơn

Quanh đảo Belle-lle sóng vỗ bờ tung toé
Monet dựa vào sườn núi, dùng đá để chèn chân giá vẽ

Ông đã rất gần, nhưng vẫn ở bên ngoài
Giấc mơ, gần hơn. Liệm trong chiếc phao chuông

Không có Chúa Trời vĩnh cửu. Bàn thờ tối tăm
Sóng ánh sáng vỗ nóc Đại giáo đường

Sự thật lấp ló. Gạch tích tắc tựa đồng hồ
"Một sự tra tấn bất tận, không phải là gì khác"

Buổi tối điểm hoa râm. Giáo đường co mình như con ốc
Monet nằm không ngủ. Đâu là mặt trời đêm?

Suốt đời theo đuổi những thứ không thể nào nắm bắt!
Trong những cây dương, những chiếc thuyền đánh cá

Kênh Venezia. Cối xay gió Hà Lan
Ở Luân Đôn trong toà nhà quốc hội

Ở Pa-ri quán cà phê tiêu hoá những lý thuyết thời thượng
trên cơ thể khúc xạ, những bộ mặt muôn hình

Người ta bắt đầu nói rằng tranh Monet thật là hoàn hảo
Còn Monet biết rằng ông đã lãng phí đời mình

Không thể vẽ những gì bạn thấy
viết những gì bạn cảm, ăn những gì bạn thèm

Bạn bè phiêu bạt. Người vợ thứ hai mất rồi
"Tôi tôn cao bức tường xung quanh tài sản của tôi"

Ánh sáng thế gian lưu lại trong chiếc ao hoa súng
Khi mắt không chịu nhìn. Khi bàn tay run rẩy

Hoạ sĩ Claude Monet chẳng bao lâu nữa sẽ mắc bệnh mù
ông đốt những hình ảnh cuối cùng của nước

Nước bốc cháy. Bất chấp những quy luật thiên nhiên
như là dấu hiệu của sự kính trọng


Nguồn: Thơ Thuỵ Điển (Nhiều người dịch), NXB Hội nhà văn & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Mặt trời đêm (Werner Aspenström): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Trong những thành phố rực rỡ néon người người vẫn bận rộn bên ngoài
Đúng lúc này họ lũ lượt rời rạp chiếu bóng
Vừa lẩm nhẩm hát vừa mất hút vào các hẻm phố con

Trên kia một ngôi làng đang ngáy
đầu gối co quắp, như thai nhi nằm trong bụng mẹ

Đèn bên ngoài đã tắt. Nhưng có một mặt trăng
toả sáng màu xanh lục
Mắt lũ cáo trực đêm

Nếu trí nhớ tốt hơn
cho bình cà phê
và cho con nhện cũng không ngủ được
Tôi sẽ đứng lên hát Chính ca tặng mặt trời
của Echnatons


Nguồn: Thơ Thuỵ Điển (Nhiều người dịch), NXB Hội nhà văn & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Buổi sáng của muôn loài (Werner Aspenström): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Buổi sáng tuyệt diệu, buổi sáng của muôn loài
Khi tạo hoá điên cuồng ném mọi thứ xung quanh
sỏi, luật trọng lực và prô-tê-in
sao chổi, tên lửa và dải Ngân hà
với những gã ma cô và đám gái đứng đường
Các loài chim biển, cá trong mây
và ở đây, trong cái chuồng và dưới cây sung thần thánh
của những bé trai và sách vở toà thánh
những người chăn cừu đã nhìn thấy ngôi sao
và những người chăn cừu không thấy gì
cho đến khi tạo hoá như một lực sĩ ném búa mệt mỏi
gục xuống đám cỏ trời
và đến cả cử toạ của khán đài đứng cũng gục xuống mà ngủ
Buổi sáng tuyệt diệu, buổi sáng của muôn loài


Nguồn: Thơ Thuỵ Điển (Nhiều người dịch), NXB Hội nhà văn & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Cây (Werner Aspenström): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Tôi nhớ một cái cây, một cây thích, mà vòm lá
đã từ lâu bị mùa thu tán sát sạt
Tôi nhớ đỉnh cây rơi tựa hồ không tiếng động
vòng quanh gốc cây
Tôi nhớ một con đường nhỏ thanh bình
Chạy ngang phía trước
Đã từng có chiến tranh
và chiến tranh sẽ không bao giờ trở lại
Cậu bé từ nông trại kế bên vừa nhảy xuống
những đợt sóng lá thích
Chúng tôi hứa với nhau
ít nhất là trước khi quá già
quá nhăn nheo và tuổi tác chất chồng
rằng sẽ không bao giờ chết
Có một con ác là đậu trên chiếc cọc
Nó bật cười
chim ác là thường không cười như thế


Nguồn: Thơ Thuỵ Điển (Nhiều người dịch), NXB Hội nhà văn & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009
Ảnh đại diện

Không phải mọi thứ trong Kinh Thánh đều giả dối (Werner Aspenström): Bản dịch của Ngô Tự Lập

Họ nói gần như là chân lý
tóc xám và râu bạc
Không phải mọi thứ trong Kinh Thánh đều giả dối
Một cái nhìn
hầu hết chúng ta không có thời gian cho cái gì khác
bất chấp những Chủ nhật dài dằng dặc tuổi thơ
những thứ hai lê thê thời niên thiếu
những đêm mất ngủ của thời đã lớn
và những năm nằm dài trên ghế bành
dùng kính lúp tìm lũ bạn cùng trường
trong tờ báo địa phương
Một con chim chìa vôi đậu xuống
kéo ra một con sâu và vụt bay lên
Bên trái một cánh buồm sột soạt
bên phải một tảng đá sẫm đen
từ chối không chịu di chuyển


Nguồn: Thơ Thuỵ Điển (Nhiều người dịch), NXB Hội nhà văn & Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009

Trang trong tổng số 2 trang (20 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối