Đương khi niên hiệu Vĩnh Hoà,
Năm là quý sửu tháng là mộ xuân.
Giủ nhau khắp mặt xa gần,
Lan đình tắm mát nhiều phần thảnh thơi.
Đồng liêu đủ bốn mươi hai,
Có già có trẻ tới nơi vang lừng.
Có non có núi có rừng,
Có giòng nước quấn ở chừng chung quanh.
Thuận giòng chén chú chén anh,
Dù không đàn sáo ca sinh cũng vừa.
Một chén rượu một bài thơ,
Bao nhiêu tình tính dường như tỏ bày.
Chén vui lại gặp hôm nay,
Mây trong gió mát, hơi bay ngạt ngào.
Xa trông đất rộng trời cao,
Gần trông hoa cỏ cảnh nào chẳng vui.
Xem nghe thì thật là vui,
Biết rằng vui có lâu dài được chăng.
Kìa người ta bình thường cư xử,
Thì mỗi ngày tâm sự khác nhau.
Có người trong bụng vô cầu,
Một nhà tụng đọc bao lâu cũng đành.
Có người chơi muốn thích tình,
Miễn không câu thúc hài hình thì thôi.
Dù rằng không ai giống ai,
Hễ khi thích chí thì vui những là.
Thú vui sung sướng mặn mà,
Nào ai có biết cái già đến sau.
Chơi bời khi đã giờ lâu,
Tình theo cảnh đổi, đeo sầu lắm thay.
Trước vui chưa được mấy ngày,
Mà trong chớp mắt đổi thay chẳng còn.
Đó là sự nhỏ con con,
Ngẫm cơ chuyển vận lòng còn lo âu.
Huống người có số đoản tu,
Trăm năm chỉ thấy cỏ khâu xânh gì.
Tử sinh là sự bất kỳ,
Nghĩ đi nghĩ lại nghĩ thì càng đau.
Người xưa tính cuộc bể dâu,
Trong lòng đau đớn cũng hầu như ta.
Xen văn cũ lòng đà ta điệu,
Tự nhiên thương không hiểu làm sao.
Biết ai bày đặt những điều,
Tử sinh thọ yểu, nói liều như nhau.
Nỗi niềm nghĩ đến mà đau,
Bây giờ nghĩ trước như sau nghĩ giờ.
Kìa người kìa rượu khì thơ,
Bâng khuâng vì cảnh ngẩn ngơ vì tình.
Buồn trông áo trắng muông xanh,
Tình kia ai cũng như mình mà thôi.
Ngậm ngùi tay thảo một bài,
Sau xem hẳn cũng có người đồng tâm.


Ngô Huy Linh làm Ký lục ở Toà án Hải Phòng.

Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 28, 1919