Dưới đây là các bài dịch của Hương Sơn. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Quá Yên Dũng huyện Yên Ninh tự (Đinh Nho Hoàn): Bản dịch của Đinh Tú Anh (nguyên quán: Sơn Hoà, Hương Sơn, Hà Tĩnh)

Chiều nắng xế hoà theo cờ sứ
Gặp ngôi chùa tên chữ: An Ninh
Khiến người đi sứ vững tin
Hành trình thẳng tới Yên Kinh tất thành.

Nhớ quê mẹ ba canh trằn trọc
Chốn liễu đào ta cóc tơ vương
Mấy dân thiểu số trên đường
Ánh nhìn ngơ ngác ra dường lạ ghê.

Chiều ngồi rỗi ngước về Đầu Bụt
Núi một màu xanh ngút tầng mây
Kiểm tra lễ vật: đủ đầy
Vang trong thanh vắng đâu đây chuông chùa.

Ảnh đại diện

Vọng Lư sơn bộc bố (Lý Bạch): Bản dịch của xa xa trông hương sơn

hương lô năng rọi sinh làn khói
thác trong tầm mắt trước xa xa
cuòn cuộn nươc rơi ba nghìn thước
tưởng tròi tuôn xuống dãy ngân hà!!

Ảnh đại diện

Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Phương Sơn

Trên bến Tầm Dương đêm tiễn khách,
Hoa địch, lá phong thu lách tách.
Chủ nhân xuống ngựa, khách trong thuyền,
Cất ly muốn nhậu, không quản huyền,
Say chẳng thành vui, buồn sắp biệt,
Lúc biệt lờ mờ sông lắm nguyệt.
Chợt nghe trên nước tiếng tì bà,
Chủ quên về, khách cũng lân la.
Theo tiếng hỏi thăm ai đó đàn,
Tiếng đàn ngừng hẳn, nói khoan khoan.
Xeo thuyền gần lại mới ra mặt,
Khêu đèn, đặt rượu thêm tiêm tất;
Ngàn kêu muôn gọi mời qua thuyền,
Ôm chiếc tì bà che nửa mặt,
Vặn trục nhấn dây ít tiếng thôi,
Chưa thành khúc điệu đã tình rồi,
Dầy đầy đè nén ý trầm ngâm,
Như tỏ bình sinh chửa xứng tâm.
Cúi mày, tay gẩy, tiếng tuôn tuôn,
Kể hết trong lòng bao nỗi buồn.
Nhẹ nhõm, khoan thai, hát lại khều,
Trước khúc Nghê Thường, sau Lục Yêu,
Có lúc thì thầm như nói nhỏ,
Có lúc ào ào như nước đổ.
Ào ào, thì thầm xen lẫn đàn,
Châu nhỏ, châu to rót ngọc bàn.
Tiếng oanh ríu ríu dưới hoa, trơn,
Tiếng suối ngập ngừng, nước xuống ngàn,
Thảnh thót suối ngừng, dây ngỡ đứt,
Cách tuyệt không thông, đàn tạm dứt.
Riêng có âu sầu ám hận sinh,
Khi im tiếng hơn khi có tiếng,
Bình bạc bể rồi, nước chảy tung.
Ngựa sắt vung ra, thương chạm kiếm,
Khúc rồi, cất bát vạch tim đờn,
Xẹt một tiếng, bốn dây lẳng lặng,
Ghe cộ đông tây chẳng một lời,
Lòng sông chỉ thấy trăng thu trắng.
Tần ngần đem bát cắm trong dây,
Sửa soạn áo xiêm trở gót giày,
Tự xưng vốn thị gái Kinh thành,
Nhà ở Hà Mô lăng hạ đó,
Đàn tì học giỏi mới mười ba.
Tên thuộc giáo phường đệ nhất bộ,
Khúc hay thường được thiện tài khen,
Đóng mốt, Thu nương thêm tật đố.
Ngũ Lăng khách trẻ tranh triền đầu,
Một khúc tiêu hồng không biết số.
Hoa vàng lược bạc bể luôn tay,
Đỏ nhuộm quần là vì nhuộm ố,
Năm nay cười giỡn lại sang năm,
Thu nguyệt xuân phong quên mấy độ.
Dì nuôi đã chết, em tòng quân,
Sớm tối đổi thay nhan sắc cũ,
Ngựa xe trước cửa vắng lơ thơ.
Già lớn về tay người đại cổ.
Con buôn lợi trọng, biệt ly khinh,
Tháng trước, Phù Lương đi bán trà,
Cửa sông đi lại giữ thuyền không.
Quanh thuyền trăng rọi, nước mênh mông.
Đêm khuya mộng thấy việc hồi trẻ,
Mơ màng giọt lệ đỏ lan can.
Ta nghe đàn tì đã buồn bực,
Lại nghe lời này càng bứt rứt.
Cùng người luân lạc chỗ thiên nhai,
Gặp nhau hà tất từng tương thức.
Ta từ năm trước xa Đế kinh,
Giáng chức, đau nằm Tầm Dương thành,
Tơ trúc trọn năm nghe vắng tiếng,
Tầm Dương hẻo lánh thôi cũng đành.
Bến Bồn đất thấp nhà gần đó,
Trúc đắng lan vàng vẫn mọc quanh.
Nghe những tiếng gì trong đêm tối?
Tiếng quyên, tiếng vượn, tiếng buồn tênh.
Gặp khi hoa nở, khi trăng sáng,
Bầu rượu thường thường rót một mình.
Sau thôn có sáo và ca khúc,
Lăng líu, khàn khàn khó gợi tình.
Đêm nay nghe được tì bà khúc,
Như nghe tiên nhạc, mở thông minh.
Chớ từ, gẩy lại cho lần nữa,
Vì mình ta làm tì bà hành.
Cảm lời nói ấy, đứng hơi lâu,
Ngồi xuống vặn dây, dây thẳng gấp.
Đau thương khác hẳn điệu vừa nghe,
Thử hỏi ai là người khóc nhiều?
Giang Châu tư mã áo xanh ướt.


Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Đại cương văn học sử Trung Quốc, NXB Trẻ, năm 1997, trang 401-404
Ảnh đại diện

Trường hận ca (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Phương Sơn

Vua Hán trọng yêu người sắc nước,
Thống trị lâu năm chẳng tìm được.
Họ Dương có gái vừa lớn lên,
Kín cổng cao thường, ai biết trước.
Trời cho sắc đẹp bỏ không đành,
Một sớm vua ban đứng cạnh mình.
Một nụ cười, trăm vẻ đẹp xinh,
Sáu cung son phấn cũng coi khinh.
Suối ấm tắm rồi, xuân hết lạnh,
Nước trơn da láng trắng phau phau.
Con hầu nâng đỡ thân mềm yếu,
Ơn huệ nhà vua nhớ lúc đầu.
Mái tóc mây gài kim bộ dao,
Đêm xuân giấc mộng ngắn làm sao!
Mền ấm gần trưa vừa mới dậy,
Từ đó nhà vua chẳng sớm chầu.
Trò vui tiệc yến cứ bày thêm,
Nối gót chơi xuân đêm lại đêm.
Cung cấm ba nghìn khách má đào,
Ba nghìn yêu dấu một mình bao!
Nhà vàng sẵn đó đêm chầu chực,
Lầu ngọc xuân hoà hứng rượu cao.
Anh chị em đều chia tước thổ,
Vẻ sang khá yêu đầy cửa ngõ;
Xui lòng cha mẹ khắp trần gian,
Chẳng trọng sinh trai, trọng sinh gái.
Cung Ly cao ngất đụng mây xanh,
Tiên nhạc gió đưa khắp thị thành;
Khoan thai tơ trúc và ca vũ,
Coi hết ngày đêm còn chưa đủ.
Ngư Dương trống trận động trời đất,
Nghê Thường vũ y tan đi mất,
Thành khuyết chín lần khói bụi ngất.
Muôn ngựa tây nam đi lật đật.
Cờ thuý lay lay đi lại ngừng,
Mới hơn ngàn dặm, đứng lừng khừng.
Sáu quân chẳng tiến, biết làm sao?
Quằn quại mày ngài chết nghẹn ngào.
Hoa điền rớt đất không ai thâu,
Bỏ bao của quí chất trên đầu.
Nhà vua che mặt không phương cứu,
Màu lệ tràn hoà chảy mạch sầu.
Bụi vàng mờ mịt gió xơ xác,
Đường sạn quanh co lên Kiếm Các.
Nga Mi chân núi ít ai đi,
Cờ xí phai màu trời sáng nhạt.
Nước sông Thục biếc, núi Thục xanh,
Thánh chúa khuya khuya sớm sớm tình.
Cung quán thương tâm vừa thấy nguyệt,
Đêm mưa đứt ruột lại nghe linh.
Trời quay đất chuyển ngựa Rồng về,
Tới đó trù trừ chẳng nỡ đi.
Nắm đất Mã Ngôi còn chỗ đó,
Buồn rầu mặt ngọc thấy đâu kia,
Vua tôi cùng ngó, lệ đầm đìa,
Đông hướng đô môn mặc ngựa về.
Lúc về phong cảnh đều y cũ,
Thái Dịch phù dung, Vị Ương liễu.
Phù dung như mặt, liễu như mày,
Đối cảnh ai mà chẳng thảm thay!
Đào, lý gió xuân hoa rực rỡ,
Thu, lá ngô rụng, hạt mưa bay.
Tây cung Nam Nội cỏ thu rờm,
Lá rụng đầy thềm, sắc đỏ lòm.
Đệ tử vườn lê sinh tóc trắng,
Tiêu phòng hầu cận muốn già khom
Lửa huỳnh nhấp nhoáng điện buồn tanh,
Khêu hết đèn tàn, giấc chửa đành.
Chuông trống đề đề đêm khó hết,
Tinh hà chớp chớp muốn tan canh,
Tấm ngói uyên ương tối lạnh lùng.
Riêng mền phỉ thuý có ai chung,
Cách năm sinh tử buồn dằng dặc,
Hồn phách đi đâu, mộng chẳng thông?
Lâm Cung đạo sĩ khách tu tiên,
Hay lấy tinh thành thấu cõi huyền.
Cám cảnh quân vương thương nhớ quá,
Khiến cho phương sĩ phải cần quyền.
Cưỡi khí, xô không như điện chạy,
Xuống đất lên trời mau biết mấy!
Trên cùng mây biếc, dưới hoàng tuyền,
Hai chỗ mờ mờ đều chẳng thấy.
Chợt nghe trên bể có tiên san,
Phiếu diểu hư vô một cảnh nhàn.
Lầu gác lung linh mây rực rỡ.
Yêu kiều tiên nữ thường hay ở,
Trong có một người tự Thái Chân.
Da tuyết mặt hoa coi tựa tựa.
Khuyết vàng cửa ngọc gõ thanh thanh,
Nhờ cô Tiểu Ngọc bảo Song Thành.
Vừa nghe có sứ vua nhà Hán,
Trong trướng cửu hoa đã giật mình.
Bình bạc rèm châu mở rõ ràng,
Chênh chếch mái mây vừa ngủ dậy,
Mũ hoa chưa sửa xuống thềm đường.
Áo tiên phơi phới gió đưa đi,
Giống hệt Nghê Thường múa trước kia,
Vẻ ngọc buồn buồn tràn nước mắt,
Ngày xuân mưa trĩu một cành lê.
Ngậm tình lặng ngó tạ ơn dầy,
Một cách âm dương, vắng cả hai.
Ân ái Chiêu Dương đành dứt tuyệt,
Tháng ngày dài quá, chốn Bồng Lai.
Ngoảnh đầu nhìn xuống cõi trần hoàn,
Chẳng thấy Tràng An, thấy bụi đầy.
Phải đem vật cũ nêu tình hận,
Điền hạp kim thoa của báu này.
Của chia phân nửa, lưu phân nửa,
Thấy của nhớ người cũng tạm khuây.
Chỉ cần lòng tựa vàng bền cứng,
Hạ giới, tiên cung gặp có ngày.
Giả từ khẩn khoản nhắc thêm lời,
Trong lời thề thốt, hai lòng biết.
-Nhớ đêm khất xảo điện Tràng Sinh,
Nói nhỏ bên tai lời chí thiết:
Ở trên nguyện làm chim sát cánh,
Ở dưới nguyện làm cây liền cánh.
Trời đất lâu dài có lúc hết,
Bao giờ dứt được sợi tơ tình.


Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Đại cương văn học sử Trung Quốc, Nxb Trẻ, trang 413-418

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]