Dưới đây là các bài dịch của 1. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 947 trang (9462 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Tần Châu tạp thi kỳ 02 (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trương Việt Linh

Ngôi chùa phía bắc Tần Châu,
Ngỗi Hiêu cung điện từ lâu lưu truyền.
Tỏ mờ cảnh sắc hoang lương,
Rêu xanh núi cũ mọc lan cả vùng.
Giọt sương trăng dọi đầu cành,
Làn mây theo gió chùng chình qua khe.
Cớ chi sông Vị hững hờ?
Lạnh lùng một hướng lững lờ về đông.

Ảnh đại diện

Tần Châu tạp thi kỳ 01 (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trương Việt Linh

Cảnh buồn trước mắt khôn nguôi,
Người đi ta cũng theo người đi xa.
Kinh hoàng Độ Lũng vượt qua,
Ải quan vừa đến đã da diết buồn.
Ngư Long đêm nước ào tuôn,
Cảnh thu Điếu Thử đầu non lạnh lùng.
Miền tây khói lửa mịt mùng,
Đắng cay chất chứa trong lòng không thôi.

Ảnh đại diện

Ký đề giang ngoại thảo đường (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trương Việt Linh

Ta sinh vốn tính tình phóng khoáng,
Muốn nương mình giữa chốn thiên nhiên.
Vui vầy với thú lâm tuyền,
Hây hây gió trúc, mê man rượu nồng.

Cơn loạn lạc đến vùng sông Thục,
Lúc ốm đau nằm bẹp cho xong.
Nhớ xưa dọn một mẫu tranh,
Đất còn rộng rãi mênh mông chốn nầy.

Năm Thượng Nguyên bắt tay khai khẩn,
Cho đến năm Bảo Ứng mới thôi.
Dám đâu hoa lệ đua đòi,
Cốt cho vững chắc là vui trong lòng.

Vườn rộng rãi bên sông trong mát,
Sân nhà theo thế đất thấp cao.
Bao lần họp bạn vui chơi,
Có khi câu cá thuyền bơi giữa dòng.

Binh lửa vẫn bừng bừng chưa dứt,
Làm sao mà say, hát, ngủ yên.
Giao long chẳng ở mãi hang,
Hộc vàng bay sát lên tầng trời cao.

Kẻ sĩ vốn xưa nay chỉ ước,
Thân chẳng cho ngoại vật buộc ràng.
Nghĩ mình đầu óc làn nhàn,
Rối ren trong bụng chẳng toan tính gì.

Lại dắt vợ ra đi nơi khác,
Trải gió sương mù mịt não nùng.
Việc đời thay đổi không ngừng,
Cốt sao giữ được u trinh vẹn toàn.

Nhớ đến bốn cây thông nho nhỏ,
Chằng chịt bao cây cỏ mọc quanh.
Vóc sương khôn thể lớn nhanh,
Khiến cho làng xóm chạnh lòng xót thương.

Ảnh đại diện

Hỉ vũ (Xuân hạn thiên địa hôn) (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trương Việt Linh

Tiết xuân hạn đất trời mù mịt,
Nắng chang chang gay gắt chói loà.
Nhà nông ngưng việc cày bừa,
Bốn phương giặc giã vẫn chưa an bình.

Dân Ba đã nuôi quân khốn khó,
Lại khổ vì đất nẻ đồng khô.
Sông Thương đêm trước tưới mưa,
Tội trời rửa sạch mừng cho dân lành.

Gốc lúa cũng dần dần tươi lại,
Hơi độc còn đâu đấy chưa tan.
Bao giờ mới được yên nhàn,
Lo toan dứt bỏ, ưu phiền rũ xong.

Mây lớp lớp bềnh bồng đầu núi,
Ngưng tụ dần nhưng hãy còn vương.
Thiên Lôi, này phải đánh đòn,
Bắt mưa tràn khắp mọi vùng Việt Ngô.

Ảnh đại diện

Hoàn Vương miếu (Phan Chu Trinh): Bản dịch của Trương Việt Linh

Chốn này là miếu Hoàn Vương,
Dấu xưa còn mãi lưu truyền đến nay.
Trăm năm bao sự đổi thay,
Việc xưa nghĩ lại lòng ai ngậm ngùi.
Kiếm linh gió dập mưa vùi,
Tấc vàng đã mất đâu rồi non sông!
Lên cao trời tối ngóng trông,
Quay đầu nhìn lại lệ dầm ướt khăn.

Ảnh đại diện

Điếu thủ khoa Huân (Phan Chu Trinh): Bản dịch của Trương Việt Linh

Giết giặc lòng nung mãi chẳng nguôi,
Sa trường một chết dạ chưa thôi.
Văn sơn chính khí danh còn mãi,
Trương tướng gan to tiếng để đời.
Buồn nỗi non sông bời sóng dậy,
Chết đi khỏi thẹn cúi đầu ai.
Sông Tho mấy lớp ba đào dựng,
Trăng rọi thuyền con xiết ngậm ngùi.

Ảnh đại diện

Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trương Việt Linh

Thu buồn tuổi cả gượng làm khuây,
Cùng bạn vui chơi thoả buổi nay.
Gió thổi tung khăn cười tóc ngắn,
Người nhờ sửa mũ chán mình thay.
Sông Lam muôn suối xa tuôn lại,
Núi Ngọc hai toà ngất cõi mây.
Năm tới hội nầy ai có khoẻ?
Cành thù trân trọng uống cho say.

Ảnh đại diện

Hựu trình Ngô lang (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trương Việt Linh

Ngoài sân đập táo mặc ai,
Lão bà nghèo khó hôm mai một mình.
Cũng vì lâm cảnh khốn cùng,
Lòng còn lo sợ nên lần làm quen.
Bởi e khách lạ thêm phiền,
Rào thưa chớ để tưởng mình cấm sang.
Rằng nghèo thuế đóng thấu xương,
Chiến tranh nghĩ tới lệ tuôn ướt dầm.

Ảnh đại diện

Quan Công Tôn đại nương đệ tử vũ “Kiếm khí” hành (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trương Việt Linh

Xưa có giai nhân họ Công Tôn,
Mỗi lần múa kiếm động bốn phương.
Người xem như núi đều khiếp đảm,
Đất trời theo nhịp cũng xuống lên.
Sáng như Hậu Nghệ bắn vầng nhật,
Vững như chư tiên cưỡi rồng vàng,
Đến như sấm sét thu cơn giận,
Dừng như sông bể đọng thanh quang.
Môi thắm, áo ngọc giờ vắng tênh,
Về già truyền nghề cho đệ tử,
Người đẹp Lâm Dĩnh thành Bạch Đế,
Khúc này tuyệt khéo, thật hiên ngang.
Cùng ta giây lát đem chuyện kể,
Thời cuộc nhiễu  nhương thêm xót thương!
Tám nghìn thị nữ của tiên đế,
Kiếm khí Công Tôn tài xuất thế.
Năm chục năm qua tựa trở tay,
Cung vua gió bụi mịt mù bay.
Đệ tử lê viên tan tựa khói,
Hương xưa nữ nhạc giờ lạnh lẽo.
Tước gò Kim Túc cây ngẩn ngơ,
Thành đá Cù Đường cỏ xác xơ.
Trên tiệc sáo ngân vừa mới dứt,
Hết vui, nối sầu vầng trăng mọc,.
Già nầy chẳng biết đi về đâu,
Núi vắng lê chân lòng bức rức.

Ảnh đại diện

Đoản ca hành tặng Vương lang tư trực (Đỗ Phủ): Bản dịch của Trương Việt Linh

Chàng Vương vừa lướt khướt say,
Rút gươm chém đất hát ngay “Đừng buồn”.
Ta nên giúp bác một lần,
Kỳ tài lỗi lạc khốn cùng mãi đeo.
Cành to ngày tháng gió reo,
Biển khơi rẽ sóng giương vây cá kình.
Cởi gươm thôi chớ trùng trình,
Mái chèo sông Cẩm trông chừng về tây.
Giày vàng đến ngõ ai đây?
Trọng Tuyên đã trãi trên lầu mấy xuân.
“Mắt xanh” cất giọng vang lừng,
Người trong mắt ấy xem chừng già thay!

Trang trong tổng số 947 trang (9462 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] ... ›Trang sau »Trang cuối