Dưới đây là các bài dịch của Đỗ Văn Hỷ. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [2] [3] [4] [5]

Ảnh đại diện

Ngọ thuỵ (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Mưa tạnh, núi khe sạch,
Rừng phong một giấc mơ.
Ngoảnh nhìn đời bụi bặm,
Mở mắt dường say sưa.

Ảnh đại diện

Phỏng Tăng Điền đại sư (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Nào phải rừng xanh hay cửa tía
Cuối cùng đâu chẳng chốn an lòng
Người đời chỉ thấy nghìn non sáng
Tiếng vượn rừng sâu ai biết không?


Nguồn: Thơ văn Lý Trần, tập II, 1988
Ảnh đại diện

Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư (Hồ Chí Minh): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Sách ngài Chủ nhiệm mới đưa sang,
Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang;
Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ,
Chân trời một tiếng sấm rền vang.

Ảnh đại diện

Tặng Tiểu Hầu (Hải) (Hồ Chí Minh): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Bé thì phải học, lớn thì hành,
Với dân, đảng, nước, dạ trung thành;
Kiệm cần, dũng cảm và liêm chính,
Chớ phụ ông Lương dạy dỗ mình.

Ảnh đại diện

Độc Tưởng công huấn từ (Hồ Chí Minh): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Gian khó không lùi, vẫn tiến lên,
Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên;
Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị,
Nhất định thành công sẽ có phen.

Ảnh đại diện

?! (Hồ Chí Minh): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Không đâu khổ đã bốn mươi ngày,
Bốn chục ngày qua xiết đọa đày;
Nay lại giải về châu Liễu nữa,
Khiến người đã bực lại buồn thay!

Ảnh đại diện

Đáo Quế Lâm (Hồ Chí Minh): Bản dịch của Xuân Diệu, Đỗ Văn Hỷ

Quế Lâm, không quế, có rừng đâu,
Chỉ thấy non cao lẫn nước sâu;
Ngục dưới bóng đa ghê sợ thực,
Ngày thì ảm đạm, tối u sầu!

Ảnh đại diện

Tháp hoả xa vãng Lai Tân (Hồ Chí Minh): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ, Huệ Chi

Cuốc bộ mấy mươi ngày vất vả,
Hôm nay được bước lên xe hoả;
Dù rằng chỉ ngồi trên đống than,
Sang gấp mấy lần khi cuốc bộ.

Ảnh đại diện

Bào Hương cẩu nhục (Hồ Chí Minh): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Qua Quả Đức thì chén cá tươi,
Qua Bào Hương lại xơi thịt chó;
Cho hay bọn giải tù nhân này,
Cách sống đôi khi cũng sành đó.

Ảnh đại diện

Thị tịch (Tịnh Giới thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Thu về hơi mát dạ lâng lâng,
Tử Kiến tài cao vịnh dưới trăng.
Sao lại truyền tâm bằng mách bảo?
Si đần! Cười chết bọn thiền tăng.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội, 1977

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [2] [3] [4] [5]