Dưới đây là các bài dịch của Đỗ Văn Hỷ. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Đề tinh xá (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Bước tới cổng chùa chửa phút giây,
Dọc ngang lời kệ viết xong ngay.
Gần đây ngòi bút thờ ơ quá,
Tam giới Như Lai cũng khó hay.

Ảnh đại diện

Phóng ngưu (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Quy Sơn xóm nọ bỗng quay sang,
Cam nhận chăn trâu chốn nội hoang.
Ơn đức quốc vương như biển cả,
Riêng vui cỏ suối với hoa ngàn.

Ảnh đại diện

Thị học (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Học đạo mênh mang ai có hay,
Gạch đem mài gạch, nhọc nhằn thay!
Cửa người anh hãy thôi nương dựa,
Một ánh xuân về hoa đó đây.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977
Ảnh đại diện

Điệu tiên sư (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Vừa lúc “vô sinh” dứt khúc ca,
Cầm ngang ống sáo lại quê nhà.
Vượt qua mọi cái “không chi cả”,
Cưỡi ngựa trâu bùn mặc sức ta.

Ảnh đại diện

Vấn Phúc Đường đại sư tật (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ, Huệ Chi

Gió cuốn trên sông, sóng nổi liền,
Củi vừa bắt lửa, sáng bùng lên.
Mới hay tứ đại là hư ảo,
Núi Kiếm cheo leo mặc sức men.

Ảnh đại diện

Dưỡng chân (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Tấm thân suy yếu kể chi mà,
Hạc nội nào đâu lẩn tránh gà.
Muôn tía nghìn xanh tràn đất nước,
Chân trời góc biển dưỡng tình ta.

Ảnh đại diện

Thất châu (Đạo Hạnh thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Nhật nguyệt ló non đoài,
Người người mất hạt trai.
Như nhà giàu có ngựa,
Bỏ ngựa đi chân hoài.

Ảnh đại diện

Thị đệ tử Bản Tịch (Thuần Chân thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

"Chân tính" thường không tính,
sinh diệt có bao giờ.
Thân là nguồn sinh diệt,
Pháp tính vẫn như xưa.

Ảnh đại diện

Đáp nhân “tri túc” chi vấn (Trí Bảo thiền sư): Bản dịch của Hoàng Lê, Đỗ Văn Hỷ

Một hôm lên giảng đường, tăng và tục đông như nêm. Có người hỏi:
- Thế nào là "tri túc"?

Sư trả lời:
- Xét lẽ thì người xuất gia cũng như kẻ tại gia [đều phải] dừng lại ở chỗ "tri túc". Nếu đã biết thế nào là "tri túc" thì bên ngoài không xâm phạm người mà bên trong không hại đến mình. Dù nhỏ mọn như ngọn cỏ thôi mà người không cho, thì mình cũng không nên lấy. Huống chi vật khác là thuộc người khác [sở hữu], nếu ta tơ tưởng tới nó thì rốt cuộc không từ đó mà sinh lòng trộm cắp hay sao? Cho đến vợ con của người, nếu ta tơ tưởng tới họ thì chẳng cũng từ đó mà sinh lòng tà dâm hay sao? Ai nấy hãy nghe bài kệ của ta:

Tiền tài tri túc, chớ tham,
Đừng lo tranh đoạt, gắng làm từ bi.
Không cho, ngọn cỏ lấy chi?
Tấm lòng như ngọc mơ gì của ai!
Vợ mình riêng đủ lắm rồi,
Còn toan mơ ước vợ ai làm gì?
Vợ ai, kẻ ấy yêu vì,
Nỡ nào sinh bụng bất nghì, tà gian!

Ảnh đại diện

Hy Di (Minh Trí thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Truyền riêng ngoài giáo lý,
Vi diệu ấy nguồn Thiền.
Nếu ai muốn phân biệt,
Tìm khói trong ảo huyền.

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối