Dưới đây là các bài dịch của Đỗ Văn Hỷ. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

An định thời tiết (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Sống chết về đâu chớ hỏi quanh,
Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành.
Mây ngàn vốn tự bay ra núi,
Nước suối thường khi đỗ xuống ghềnh.
Độ độ hoa cười xuân tới tiết,
Đêm đêm gà gáy lúc tàn canh.
Khuôn trăng người mẹ ai hay biết,
Trời nọ người kia thảy giả danh.

Ảnh đại diện

Chiếu thân (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Cháy đầu bỏng trán mặc kim bào,
Xay giã bao năm ai biết nào,
Nếu thực siêu quần và xuất chúng,
Mỗi lần hạ xuống một lần cao.

Ảnh đại diện

Ngẫu tác (II) (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Mơ dậy còn nên xét rõ rành,
Hợp thời đúng lúc cốt tinh anh.
Mặc cho năm mắt thông minh đấy,
Không khỏi nhìn chuông hoá hũ sành.

Ảnh đại diện

Tán Tuệ Trung thượng sĩ (Trần Nhân Tông): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Càng nhìn càng cao,
Càng khoan càng bền.
Chợt phía sau đó,
Ngắm, phía trước liền.
Cái này tên gọi,
Là Thượng sĩ Thiền.

Ảnh đại diện

Sơn phòng mạn hứng kỳ 2 (Trần Nhân Tông): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Phải trái rụng theo hoa buổi sớm,
Lợi danh lạnh với trận mưa đêm.
Hoa tàn, mưa tạnh, non im lắng,
Xuân cõi còn dư một tiếng chim.

Ảnh đại diện

Sơn phòng mạn hứng kỳ 1 (Trần Nhân Tông): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Ai trói buộc chi, tìm giải thoát?
Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên.
Vượn nhà, ngựa mỏi, ta già lão,
Như trước, am mây chốn toạ thiền.

Ảnh đại diện

Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn Đại Bi tự (Phạm Sư Mạnh): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Ôi:
Đất trời có tượng, tỏ chở che để nuôi dựng muôn linh;
Thời tiết không hình, ngầm nóng lạnh để hoá thành vạn vật.
Vì thế cho nên:
Ngó nhòm trời đất, kẻ cung phàm đều biết được mối manh;
Tra xét âm dương, bậc thánh triết hiếm nay cùng vận số.
Thế nhưng:
Đất trời chứa đựng âm dương, mà dễ hiểu, là vì có tượng;
Hai khí ở trong trời đất, mà khó hay, là bởi không hình.
Cho nên mới biết:
Tượng rõ dễ hay; tuy ngu chẳng rối;
Hình ngầm khó thấy, dẫu trí còn mê.
Phương chi:
Đạo Phật chuộng hư, cưỡi "không" ngự "tịch".
Nay trụ trì đại hoà thượng:
Ẩn tích non rừng, lìa nhà tu đạo, để giúp đỡ việc trụ trì chùa Khánh Lâm, đã có chiếu mệnh ghi rõ năm tháng. Nhân đó sư thừa hứng du ngoạn nhiều nơi, thấy non Vân Lỗi, bốn bề sầm uất, trong lòng ưa thích, sư bèn mở núi bạt rừng, xây dựng vài am, đúc pho Tâm Thế, cùng tượng Đại Bi, toàn bằng vàng thực, đặt ở đỉnh non, sớm chiều cầu khấn: hoàng đồ bền vững, thiên hạ thái bình, đức vua muôn tuổi.
Sư nghĩ nơi đây:
Đông có xóm làng, cửa nhà đông đúc, có thể làm nơi chung đỉnh của hào gia;
Nam gần sông lớn, chảy tới biển khơi, có thể làm chốn mênh mông cho thế giới.
Tây có sông Kinh, len lỏi tới hương Đại Ly, núi Ma Ni, có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện;
Bắc kề đường lớn, ăn thông tới Thần Đầu hải khẩu, có thể làm nơi nghỉ tốt cho kẻ lại người qua.
Đúng là dùng bốn phía làm giới phong, đứng trấn ở non Vân Lỗi, vì non này là chủ các non. Nay có đất hoang, chân non sát liền nước mặn, thường sử dụng còn thừa, đông gần đường nhỏ, lấy nguồn nước Khê Sơn làm giới hạn, tây giáp Vỹ Sơn, lấy chốn họp đông người làm giới hạn. Việc lưu thông thường ở nhà chùa, để nuôi tăng, cho tu bổ lại không để đổ nát. Tôi kính cẩn giải lời quê vụng, ghi lại tháng năm, cho nên dựng bia và khắc bài minh này:

Kề non Vân Lỗi,
Am cỏ bên sông.
Con người xây dựng,
Giới tuệ viên thông.
Kẻ sống người chết,
Ngàn năm phúc chung.
Chúng sinh cứu vớt.
Từ bi rủ lòng,
Bến mê dẫn đặt.
Muôn loài qua sông,
Mọi người hớn hở,
Khắp chốn ngông trông.
Đạo huyền sâu lắng,
Bờ bến khôn cùng.
Đổi hình lánh tục,
Khuất bóng về "không"
Nét vàng mờ sắc,
Hiện ra huy hoàng.
Thần non hộ vệ,
Thí chủ cúng dâng.
Sớm chiều không ngớt,
Tấp nập giầu sang.
Minh này tựa ấy,
Ghi làm sử vàng.

Trèo mây tay với trăng sao,
Thân nơi sông Bạc tầng cao xanh mờ.
Cúi nhìn muôn dặm sóng xô,
Nước lưng trời thẳm, non phô mặt duềnh.

Ảnh đại diện

Quá An Long (Trần Quang Triều): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Ưa người sông nước hây hây,
Đưa tiễn chiều tàn cạn chén say.
Xào xạc hoa lau triều lút bãi,
Lâng lâng trời biếc nhạn chim mây.
Khói chiều ngang bến chuông đêm vắng,
Bọt lái xô ghềnh khí lạnh bay.
Muôn dặm ngọc kinh tình bịn rịn,
Nhìn sao, Giang Hán đỗ thuyền đây.

Ảnh đại diện

Tán Tuệ Trung thượng sĩ (Pháp Loa thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Ôi!
Thép ròng rèn được,
Gang sống đúc thành.
Thước trời tấc đất,
Gió mát trăng thanh.
Ha!

Ảnh đại diện

Vãn thượng tướng quốc công Hưng Đạo đại vương (Phạm Ngũ Lão): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Tiếng chuông Trường Lạc một hồi buông,
Hiu hắt hơi thu xiết nỗi buồn.
Muôn dặm thành dài ai nỡ phá?
Chín trùng gương sáng phút mờ luôn.
Mây trùm phức đạo mi sầu nhíu,
Mưa ngập trường giang lệ máu tuôn.
Khuê tảo ngửa trông lời mực thước,
Tình sâu cá nước tứ thơ còn.

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối